Pages

HOME

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu bản án. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu bản án. Hiển thị tất cả bài đăng

7/06/2017

[DS-001] TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN LÀ TIỀN ĐỀN BÙ ĐẤT VÀ CÂY ĐƯỚC TẠI HCM


(Quyết định giám đốc thẩm số 03/2008/DS-GĐT ngày 08-01-2008 của Toà Dân sự TANDTC tại Tp. Hồ Chí Minh)

1/. Nội dung vụ án:

(Tranh chấp đất trồng đước, ảnh minh họa)

Nguyên đơn Họ Đạo Cao Đài Thánh Thất Thôn TH, xã TT, huyện CG, thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Họ Đạo) trình bày:
Ngày 21-10-1991, Họ Đạo được UBND huyện DH (nay là huyện CG) cấp diện tích 129.882m2 đất (gồm 3 thửa tọa lạc tại tờ bản đồ số 15, xã TT) để sản xuất. Cũng trong thời gian đó, vợ chồng ông Trần Văn B, bà Phạm Thị T cũng được cấp diện tích 157.644 m2 đất lâm nghiệp, gồm 8 thửa tọa lạc tại tờ bản đồ số 15, xã TT.
Năm 1992, Họ Đạo quyết định trồng đước trên diện tích đất được giao nhưng đất đã bị ông B, bà T lấn chiếm trồng đước trên diện tích đất này. Họ Đạo yêu cầu ông B, bà T trả lại đất nhưng không được chấp nhận.
Ngày 26-01-2005, Họ Đạo khởi kiện tại Tòa án yêu cầu ông B, bà T trả lại đất (thực tế đất đã bị Nhà nước thu hồi và được bồi thường, trong đó Họ Đạo đã nhận 114.296.160 đồng). Trong đơn khởi kiện bổ sung, Họ Đạo yêu cầu ông B, bà T trả lại đất và tiền ăn chia cây đước trồng trên đất. Sau đó tại biên bản hòa giải không thành, Họ Đạo yêu cầu ông B, bà T trả lại toàn bộ số tiền đền bù đất là 571.480.000 đồng và 50% tiền huê lợi cây trồng trên đất là 428.617.000 đồng.
Bị đơn ông B, bà T trình bày: Năm 1991 ông, bà được UBND huyện DH cấp diện tích 157.644m2 đất lâm nghiệp. Sau khi nhận đất, ông bà đã khai hoang trồng đước và được UBND xã và Hạt kiểm lâm cho phép. Năm 2002, Nhà nước có chủ trương kê khai, thu hồi lại đất rừng ở khu rừng ngập nước để làm khu sinh thái, gia đình ông bà đã trả lại 129.882m2 đất và được đền bù tổng cộng 1.428.700.800 đồng (trong đó tiền đất là 571.480.000 đồng và tiền cây đước là 857.220.000 đồng). Ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện nêu trên của Họ Đạo.

2/. Quá trình giải quyết vụ án:

Tại Bản án sơ thẩm số 1498/DSST ngày 19-7-2005, TAND TP.HCM đã quyết định: Họ Đạo được quyền sở hữu toàn bộ khoản tiền đền bù 129.882 m2 đất, trị giá 571.480.800 đồng; ông B, bà T phải thanh toán trả lại tiền đền bù cây đước cho Họ Đạo là 373.676.408 đồng.
Ngày 28-7-2005, ông B, bà T kháng cáo. Tại Bản án phúc thẩm số 419/DSPT ngày 27-10-2005, Toà phúc thẩm TANDTC TP.HCM đã giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
Ngày 02-12-2005, ông B, bà T có đơn khiếu nại. Ngày 22-10-2007, Chánh án TANDTC có Quyết định số 209/2007/KN-DS kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên với lý do: cần làm rõ Họ Đạo có biết hay không biết thỏa thuận đền bù đất và cây; xác minh rõ Họ Đạo có biết hay không biết việc ông B, bà T trồng cây đước trên đất của Họ Đạo; cần xác định vụ án là tranh chấp quyền sở hữu tài sản. Từ đó đề nghị huỷ bản án phúc thẩm; giao hồ sơ vụ án cho TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm lại.

3/. Nhận xét:

Hội đồng giám đốc thẩm nhận cho rằng trong vụ án này cả hai cấp Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đều mắc chung một sai lầm: Họ Đạo và vợ chồng ông B, bà T tranh chấp về số tiền đền bù đất và cây nên quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp quyền sở hữu tài sản (tiền đền bù đất, cây). Tòa án các cấp xác định quan hệ pháp luật là “Chiếm dụng quyền lợi đất và tài sản trên đất” là chưa đúng.
Họ Đạo với vợ chồng ông B, bà T có tranh chấp về số tiền bồi thường về giá trị quyền sử dụng đất và cây nên cần phải xác minh làm rõ lại thoả thuận, phương án đền bù đất, cây đã xác lập trước đó giữa Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng với Họ Đạo và ông B, bà T.
- Nếu các bên đều biết thoả thuận này và phương án đền bù được làm công khai, được niêm yết đầy đủ và UBND thành phố Hồ Chí Minh đã có Quyết định phê duyệt phương án đền bù thì tiền bồi thường của người nào người đó được hưởng.
- Nếu các bên không biết thoả thuận này và Họ Đạo biết vợ chồng ông B, bà T trồng đước trên đất của Họ Đạo nhưng không khiếu nại thì không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Họ Đạo đòi giá trị khai thác quyền sử dụng đất để trồng cây.
- Trong trường hợp Họ Đạo biết ông B, bà T trồng đước trên đất của Họ Đạo và có khiếu nại, tranh chấp từ khi mới trồng nhưng chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thì Họ Đạo cũng chỉ được hưởng giá trị khai thác, sử dụng đất tương ứng với giá đất thuê (trong thời gian từ năm 1992 đến lúc Nhà nước thu hồi đất) tại địa phương, nhưng không thể cho hưởng 50% số tiền bồi thường đước (sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý).

Do đó, Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm; Giao hồ sơ vụ án cho TAND thành phố Hồ Chí Minh để xét xử sơ thẩm lại.

6/27/2017

VỤ ÁN 16: Tranh chấp giữa thành viên CT với CT Phúc Lộc Thọ tại HCM


Nội dung vụ án:
Ngày 13/1/2008, Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Phúc Lộc Thọ (“Công ty”) họp Đại hội cổ đông bất thường. Theo biên bản cuộc họp, ông Lê Xuân Thành thôi giữ chức giám đốc công ty, ông Thành có trách nhiệm trả cho Công ty số tiền trợ vốn, tiền thuê nhân công là 400.000.000 đồng và tiền 3% thu nhập chịu thuế tính trước là 100.000.000 đồng (3% x 6.123.531.400 đồng). Tổng cộng: 500.000.000 đồng.
Công ty cho rằng số tiền 500.000.000 đồng mà Công ty yêu cầu ông Thành trả thực chất là tiền ông Thành có nghĩa vụ hỗ trợ cho Công ty khi ông Thành thi công công trình cải tạo và nâng cấp đường 827B của Sở giao thông vận tải LA. Ông Thành có trách nhiệm thanh toán số tiền 500.000.000 đồng thành nhiều đợt theo tiến độ nghiệm thu của công trình 827 B.  
Do ông Thành không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nêu trên, Công ty đã khởi kiện yêu cầu ông Thành trả số tiền 500.000.000 đồng cùng tiền lãi phát sinh theo mức lãi 1%/tháng trên số tiền 500.000.000 đồng tính từ 13/01/2008 đến ngày 22/09/2010 là 160.000.000 đồng. Tổng cộng 660.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án:
Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 1589/2010/KDTM-ST ngày 29/09/2010 của Tòa án nhân dân thành phố HCM quyết định:
Bác yêu cầu của Công ty Phúc Lộc Thọ về việc yêu cầu ông Lê Xuân Thành trả số tiền 500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 160.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền bị bác là 660.000.000 đồng.
Ngày 12/10/2010 Công ty có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại bản án phúc thẩm số 70/2011/KDTM-PT ngày 16/5/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Hủy bản án số 1589/KDTM-ST ngày 29/9/2010 của Tòa án nhân dân thành phố HCM; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Nhận xét:
Tòa cấp phúc thẩm cho rằng Tòa cấp sơ thẩm đã mắc những thiếu sót không thể khắc phục được. Tòa cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào biên bản ngày 13/01/2008 để quyết định giải quyết vụ án là chưa chính xác. Bởi lẽ:
- Giám đốc đại diện Công ty lúc bấy giờ là ông Thành đã lập biên bản thỏa thuận với Tharadi rằng Công ty sẽ thi công công trình nếu Tharadi trúng thầu công trình 827B. Sau khi trúng thầu thì Công ty có làm không? Nếu không làm thì lý do vì sao lại ký quỹ cho Tharadi như các đương sự đã thừa nhận trước tòa?
- Ông Thành là người của Công ty sao lại được Tharadi quyết định làm đội trưởng thi công cho Tharadi trong khi chưa có văn bản nào xác định ông Thành không còn là nhân viên của Công ty.
- Nếu như Công ty không còn liên quan gì đến việc thi công công trình 827B thì sao Đại hội cổ đông Công ty ngày 13/1/2011 vẫn có sự thống nhất Công ty sẽ ứng tiền cho ông Thành làm công trình này nếu Tharadi chưa kịp rót tiền cho ông Thành.

Tất cả chứng cứ trên Tòa sơ thẩm chưa làm rõ để xác định Tharadi, ông Thành và Công ty có mối quan hệ trong công trình 827B như thế nào, chỉ dựa vào chứng cứ Công ty không rót tiền cho ông Thành mà xử bác yêu cầu là chưa có căn cứ thuyết phục. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ xét xử lại là hợp lý.

6/23/2017

Vụ án 15: Tranh chấp giữa thành viên công ty với Công ty cổ phần về công bố thông tin hoạt động


Nội dung vụ án:
Ông Trần Quang Tín (“ông Tín”) là cổ đông sáng lập, thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần ĐNP (“Công ty”) sở hữu 990.000 cổ phần tương đương giá trị là 9.900.000.000 đồng, chiếm tỷ lệ 33% vốn điều lệ từ năm 2010.
Ông Tín cho rằng từ khi Công ty thành lập đến năm 2014, Công ty đã không thông báo cho ông các thông tin liên quan đến hoạt động của công ty. Vào ngày 24/4/2014 và ngày 14/7/2014, ông Tín có các văn bản thông báo yêu cầu Công ty thực hiện các nghĩa vụ cung cấp thông tin nêu trên nhưng công ty không thực hiện. Vì vậy ông Tín khởi kiện Công ty với các yêu cầu khởi kiện như sau:
(i)  Yêu cầu Công ty thông báo cho ông Tín biết Bản tóm tắt nội dung báo cáo tài chính hàng năm của công ty từ khi công ty được thành lập đến hết năm 2014 và các báo cáo tài chính đến hết năm 2014;
(ii)  Yêu cầu Công ty sắp xếp thời gian cho ông Tín xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đổng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hàng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát (nếu có);
(iii)  Yêu cầu Công ty để cho ông Tín cùng với luật sư hoặc kế toán và kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề trực tiếp xem xét trong một thời gian hợp lý các báo cáo gồm: Báo cáo về tình hình kinh doanh của công ty; báo cáo tài chính; báo cáo đánh giá công tác quản lý, điều hành công ty;
(iv)  Yêu cầu Công ty cung cấp thông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của công ty và các đơn vị trong công ty;
(v)  Yêu cầu Công ty thông báo cho ông Tín để xem xét chấp thuận hay không các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất.
Công ty ĐĐ có ý kiến cho rằng, trên thực tế không có cổ đông nào góp vốn vào công ty; Công ty không lập sổ đăng ký Cổ đông và giấy chứng nhận cổ phần; địa chỉ trụ sở trong giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh cũng không tồn tại, thực tế chỉ là khu đất trống, không có văn phòng nào. Kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp không có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào vì không có góp vốn, không mua và sử dụng các loại hóa đơn tài chính theo quy định. Hiện nay, công ty không có trụ sở chính nên các thành viên công ty chọn địa điểm khác để tiến hành họp xem xét yêu cầu của nguyên đơn. Công ty không xuất hình các báo cáo tài chính bên ngoài công ty mà sẽ xuất trình tại cuộc họp cổ đông.
Quá trình giải quyết vụ án:
Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2016/KDTM-ST ngày 24/02/2016 của TAND thành phố BD đã quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tín
Ngày 18/3/2016, Công ty cổ phần ĐĐ kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm
Tại bản án phúc thẩm số 49/2016/KDTM-PT ngày 27/10/2016 của TAND cấp cao TP. Hồ Chí Minh quyết định: Bác kháng cáo của Công ty Đại Đồng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Nhận xét:
1/. Công ty cổ phần ĐĐ được Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh BD cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh năm 2010, ông Tín là cổ đông sáng lập góp 9.900.000.000 đồng, sở hữu 990.000 cổ phần phổ thông, chiếm tỷ lệ 33% vốn điều lệ. Hơn nữa, Điều lệ của Công ty cũng ghi nhận ông Tín là thành viên Hội đồng quản trị Công ty. Như vậy, ông Tín có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một thành viên Hội đồng quản trị Công ty theo quy định của Điều lệ công ty và Luật Doanh nghiệp.
Yêu cầu được cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của công ty và của các đơn vị trong công ty là yêu cầu chính đáng của thành viên Hội đồng quản trị. Nó xuất phát từ nhu cầu nắm rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp để thành viên Hội đồng quản trị kịp thời có các ý kiến đóng góp cho việc chỉ đạo điều hành, đề ra phương hướng kinh doanh, quản trị công ty và trên hết yêu cầu này phục vụ cho mục đích cuối cùng mà cổ đông công ty hướng tới là theo dõi, quản lý đồng vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp một cách có hiệu quả, đảm bảo mang lại lợi nhuận hoặc tránh được những rủi ro, kinh doanh thua lỗ. Cụ thể hóa nhu cầu đó, Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định rõ về quyền được cung cấp thông tin của thành viên Hội đồng quản trị như sau: “1-Thành viên Hội đồng quản trị có quyền yêu cầu Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó giám đốc hoặc Phó tổng giám đốc, người quản lý các đơn vị trong công ty cung cấp các thông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của công ty và của các đơn vị trong công ty; 2-Người quản lý được yêu cầu phải cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác các thông tin, tài liệu theo yêu cầu của thành viên Hội đồng quản trị”. Như vậy, trường hợp Công ty không thực hiện trách nhiệm công khai thông tin về tình hình hoạt động của Công ty theo yêu cầu của thành viên hội đồng quản trị là vi phạm các quy định của Luật Doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông công ty.
2/. Công ty Đại Đồng cho rằng từ khi thành lập không có cổ đông nào góp vốn vào công ty; không lập sổ đăng ký cổ đông và giấy chứng nhận cổ phần; địa chỉ trụ sở trong giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh cũng không tồn tại, thực tế chỉ là khu đất trống, không có văn phòng nào; kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp không có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào vì không có góp vốn, không mua và sử dụng các loại hóa đơn tài chính. Tuy nhiên, dựa vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như các phiếu thu tiền do phía ông Tín cung cấp thì ông Tín đã nộp đầy đủ số tiền góp vốn là 9.900.000.000 đồng. Đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm có thu thập được tại cơ quan thuế và theo công văn số 9009/CT ngày 31/8/2015 của Cục thuế tỉnh BD về việc cung cấp chứng cứ thì đến thời điểm hiện tại Công ty Đại Đồng vẫn kê khai nộp thuế tại Chi cục thuế TDM.
Như vậy, có căn cứ xác định ông Tín đã góp đủ vốn vào Công ty ĐĐ và hiện tại Công ty ĐĐ vẫn đang hoạt động nhưng không thực hiện trách nhiệm công khai các báo cáo tài chính theo yêu cầu của ông Tín là cổ đông Công ty là vi phạm các quy định của Luật Doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Tín. Chính vì lẽ đó, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tín là có căn cứ.

 (Luật gia Võ Văn Tú, 23/06/2017)

Vụ án 14: Tranh chấp giữa cổ đông với công ty cổ phần về việc rút vốn góp


Nội dung vụ án:
Năm 2004, ông Nguyễn Thanh Tiền (“ông Tiền”) góp vốn làm ăn với Công ty cổ phần Tân Thành (“Công ty”). Theo Biên bản (giao dịch mua bán cổ phiếu) ngày 30/7/2004 và Biên nhận cùng ngày 30/7/2004 thì ông Tiền nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Ngọc Mary 2000 cổ phiếu của Công ty trị giá 02 tỷ đồng; ông Tiền đã giao cho bà Nguyễn Ngọc Jermy (Giám đốc Công ty) 700.000đ tiền mặt và diện tích đất 6.530m2 do cháu của ông là chị Nguyễn Đoàn Nhiên đứng tên hộ trong giấy chứng nhận quyến sử dụng đất, tương đương 1.151.000.000 đồng. Tổng cộng ông Tiền đã nộp 1.859.000.000 đồng, còn nợ Công ty 149.000.000 đồng chưa góp.
Ngày 14/9/2004, Công ty Tân Thành được cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh mới, trong đó ông Tiền đứng tên là 01 trong 04 cổ đông sáng lập.
Sau một thời gian hoạt động, do Công ty không công khai hoạt động kinh doanh với nên ông Tiền nên ông yêu cầu Công ty cho rút vốn. Theo Biên bản họp Đại hội cổ đông ngày 07/6/2005 về việc chuyển nhượng phần góp vốn, Công ty đã nhất trí thông qua việc chuyển nhượng cổ phiếu của ông Tiền. Cụ thể: Công ty đồng ý mua lại 2000 cổ phiếu cua ông Tiền và đổi lại cho ông Tiền 06 nền nhà, theo thỏa thuận mỗi nền nhà trị giá 500 triệu đồng. Tổng giá trị giao dịch là 03 tỷ đồng.
Tại Biên bản cuộc họp ngày 15/6/2005, Công ty và ông Tiền đã thống nhất: ông Tiền gửi lại 02 nền nhà (số 9 và 10) để hợp tác theo phương án, ông Tiền giao nền nhà, phía cô Ngọc Mary bỏ vốn xây dựng. Sau khi hoàn thành mỗi bên nhận một căn. Còn 04 nền nhà (trị giá 02 tỷ đồng) ông Tiền giao cho Công ty với thỏa thuận “Bất kỳ một doanh thu nào phát sinh do bán nhà trong khu vực, sau khi trừ chi phí và lợi nhuận trước thuế, phần còn lại ưu tiên hoàn vốn cho ông Tiền mỗi nền là 500 triệu đồng” “Trong thời hạn sau ngày 30/7/2005 nếu Công ty Cổ phần Tân Thành chưa có giao dịch phát sinh thì Công ty sẽ tạm ứng cho ông Tiền mỗi tháng 20 triệu đồng. Sổ tiền này sẽ khấu trừ vao trong số tiền 02 tỷ đồng”.
Do Công ty chậm trả số tài sản nêu trên nên ngày 03/7/2006, ông Tiền khởi kiện yêu cầu Công ty phải trả cho ông 3.000.000.000 đồng là giá trị của 6 nền nhà như đã thỏa thuận.
Công ty có ý kiến do chưa bán được nhà nên đồng ý giao trả lại cho ông Tiền 06 nền nhà theo thỏa thuận. Ngoài ra, Công ty còn yêu cầu ông Tiền trả 149.000.000 đồng tiền nợ cổ phiếu, 62.580.000 đồng tiền lãi cổ phiếu và 180.000.000 đồng tiền ông Tiền tạm ứng của Công ty và 77.025.000 đồng tiền lãi của số tiền tạm ứng. Tổng cộng 469.605.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án:
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2007/DSST ngày 28/3/2007, TAND tỉnh TG quyết định: Công ty Tân Thành phải trả cho ông Tiền số tiền 2.634.240.000 đồng; chấp nhận yêu câu phản tố của Công ty Tân Thành và đã được trừ vào số tiền phải trả nêu trên.
Ngày 30/3/2007, ông Nguyễn Hòa Ryan, ông Phạm Văn Toàn, bà Nguyễn Ngọc Mary là cổ đông Công ty Tân Thành kháng cáo. Ngày 09/4/2007, ông Tiền kháng cáo.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 196/2007/BSPT ngày 26/6/2007, Tòa phúc thẩm TANDTC tại thành phố HCM quyết định: Hủy toàn bộ Bản ản dân sự sơ thẩm số 07/2007/DSST ngày 28/3/2007 của TAND tỉnh TG và giao hồ sơ vụ án về cho TAND tỉnh TG xác minh, giải quyết lại.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2008/DSST ngày 11/7/2008, TAND tỉnh TG quyết định: Công ty Tân Thành phải trả cho ông Tiền số tiền 1.924.089.430 đồng; ông Tiền phải trả cho Công ty Tân Thành tiền nợ cổ phiếu, tiền lãi nợ cổ phiếu, tiền tạm ứng tổng cộng 392.580.000 đồng.
Ngày 22/07/2008, ông Tiền có kháng cáo. Ngày 17/7/2008, Công ty cổ phần Tân Thành kháng cáo.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 50/2009/DSPT ngày 17/02/2009 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại thành phố HCM quyết định: Công ty Tân Thành phải trả cho ông Tiền số tiền 03 tỷ đồng; Ông Tiền phải trả cho Công ty Tân Thành tiền nợ cổ phiếu, tiền lãi của tiền nợ cổ phiếu và tiền tạm ứng, tổng cộng là 392.580.000 đồng.
Ngày 30/7/2009, Công ty cổ phần Tân Thành khiếu nại.
Tại Quyết định số 586/2011/KN-DS ngày 12/9/2011, Chánh án TANDTC kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 50/2009/DSPT ngày 17/2/2009 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố HCM, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2008/DSST ngày 11/7/2008 của TAND tỉnh TG; giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh TG xét xử sơ thẩm lại.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 62/2013/DS-GDT ngày 12/6/2013 của Hội đồng giám đốc thẩm TANDTC quyết định hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 50/2009/DSPT, ngày 17/02/2009 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố HCM và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2008/DSST ngày 11/7/2008 của TAND tỉnh TG; giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh TG xét xử sơ thẩm lại.
Nhận xét:
Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm có thiếu sót khi chưa xác minh, làm rõ các vấn đề sau:
 1/. Tại thời điểm ông Tiền góp vốn diện tích 6.530m2 đất nông nghiệp (do chị Nguyễn Đoàn Nhiên đứng tên) để thanh toán tiền mua 2000 cổ phiếu của Công ty vào năm 2004 thì diện tích đất này đã được chuyển đổi thành đất ở và đã được phân lô chia nền hay chưa? Từ đó mới có cơ sở làm rõ thỏa thuận của ông Tiền với Công ty theo Biên bản họp Đại hội cổ đông ngày 15/6/2005 về việc Công ty mua lại 2000 cổ phiếu của ông Tiền và đổi lại cho ông Tiền 06 nền nhà là có đúng pháp luật hay không. Bởi ngày 20/4/2006, Ủy ban nhân dân tỉnh TG mới có Quyết định số 1608/QD-UBND cho phép Công ty được chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp.
Theo quy định tại Điều 131 BLDS 1995 về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện: “1- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; 2- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội; 3- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; 4- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật” Điều 137 Bộ luật này quy định “Giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, thì vô hiệu”. Như vậy, trong trường hợp diện tích 6.530m2 đất nông nghiệp góp vốn nêu trên chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép chuyển đổi thành đất ở và chưa được phân lô chia nền nhưng ngày 15/6/2005 ông Tiền và Công ty đã xác lập thỏa thuận về việc Công ty mua lại 2000 cổ phiếu của ông Tiền và đổi lại cho ông Tiền 06 nền nhà là vi phạm điều cấm của pháp luật và đây là giao dịch dân sự vô hiệu.
2/. Chưa có căn cứ khẳng định ông Tiền và Công ty đã thực hiện xong thỏa thuận về việc ông Tiền rút vốn và Công ty trả cho ông Tiền 06 nền nhà, bởi vì sau đó các bên có thỏa thuận ông Tiền giữ lại 04 nền nhà cho Công ty kinh doanh, sau khi bán và trừ mọi chi phí sẽ hoàn vốn cho ông Tiền mỗi nền nhà 500 triệu đồng, còn 02 nền nhà ông Tiền giao cho Công ty xây dựng biệt thự, sau khi hoàn tất mỗi bên nhận 01 căn. Mặt khác, ông Tiền cho rằng Công ty thỏa thuận trả ông Tiền 06 nền nhà trị giá 03 tỷ đồng (mỗi nền nhà trị giá 500 triệu đồng) nên ông mới khởi kiện đòi Công ty trả 03 tỷ đồng. Phía Công ty thì cho rằng ông Tiền xin rút vốn và được Công ty chấp nhận trả bằng 06 nền nhà và Công ty bán được bao nhiêu sẽ trả cho ông Tiền bấy nhiêu. Vậy thì Công ty đồng ý đổi cho ông Tiền 06 nền nhà là tính bằng giá trị (03 tỷ đồng) hay trả bằng nền đất? Điểm mâu thuẫn này chưa được Tòa án các cấp làm rõ để xác định nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp (trả bằng tiền hoặc trả bằng nền đất).
3/. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Biên bản giao dịch mua bán cổ phiếu ngày 30/7/2004 có nội dung ông Tiền còn nợ Công ty phần vốn góp là 149 triệu đồng, Công ty cũng có đơn phản tố yêu cầu ông Tiền phải thanh toán phần yốn góp chưa nộp là 149 triệu đồng. Theo khoản 3 Điều 29 BLTTDS 2004 quy định “Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty” là tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Vì vậy, khi giải quyết vụ án Tòa án cần làm rõ: nếu giữa ông Tiền và Công ty thỏa thuận đồng ý cho ông Tiền rút vốn (trả bằng tiền hoặc bằng nền đất), các bên không còn tiếp tục hợp tác kinh doanh và không còn tranh chấp gì khác thì đó là tranh chấp về dân sự; nếu việc chuyển nhượng vốn chưa hoàn thành, các bên có tranh chấp về giá trị chuyển nhượng, tranh chấp về phần vốn góp thì phải xác định đây là tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.

Do vậy Quyết định giám đốc thẩm số 62/2013/DS-GDT ngày 12/6/2013 của Hội đồng giám đốc thẩm TANDTC hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 50/2009/DSPT ngày 17/02/2009 và Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2008/DSST ngày 11/7/2008 và giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh TG xét xử sơ thẩm lại là đúng đắn.
(Luật gia Võ Văn Tú, 23/6/2017)

6/21/2017

VỤ ÁN 13: Tranh chấp hợp đồng mua bán thép cuộn giữa CT Tràng Thi và CT An Biên tại Hải Phòng

NỘI DUNG VỤ ÁN
            Ngày 04/2/2002, Công ty Cơ khí An Biên ký hợp đồng với Công ty XNK Tràng Thi mua 300 tấn thép cuộn Hàn Quốc giá trị hợp đồng 80.614 USD. Giao hàng trong tháng 3 và tháng 4/2002. Thanh toán xong trong vòng 90 ngày kể từ khi nhận hàng .
            Ngày 10/2/2002, Công ty XNK Tràng Thi đã giao cho Công ty An Biên 298 tấn thép cuộn trị giá 1,3 tỷ nhưng công ty An Biên không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán . Ngày 7/6/2004 UBND Thành phố Hải Phòng có Quyết định số 16/2/QĐ- UB Cổ phần hoá Công ty cơ khí An Biên thành Công ty Cổ phần An Biên.
            Tại biên bản xác nhận nợ ngày 30/6/2005, Công ty Cổ phần An Biên đã xác nhận còn nợ Công ty XNK Tràng Thi 546.964.898 đồng.
Công ty XNK Tràng Thi khởi kiện đòi Công ty Cổ phần An Biên trả tiền hàng còn thiếu và lãi chậm trả trên số tiền 546.964.898 đồng.          
            Công ty Cổ phần An Biên xác nhận khoản nợ gốc và xin trả trong một tháng đồng thời xin miễn toàn bộ lãi chậm trả.
QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
            Tại bản án sơ thẩm số 15/2006/KDTM-ST ngày 18/4/2006, Toà án nhân dân tỉnh Hải Phòng quyết định:
            Công ty Cổ phần An Biên thanh toán trả Công ty XNK Tràng Thi 732.684.140 đồng trong đó có 185.899.242 đồng lãi chậm trả.
Ngày 8/5/2006, Công ty Cổ phần An Biên kháng cáo bản án sơ thẩm.
            Tại bản án phúc thẩm số 142/2006 KTPT ngày 14/7/2006, Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội đã quyết định: Huỷ bản án Sơ thẩm nêu trên với nhận định:
            - Hợp đồng mua thép giữa Công ty Cổ phần An Biên và Công ty XNK Tràng Thi các bên đã thực hiện xong giao hàng chỉ còn phần trả tiền Công ty An Biên còn thiếu 546.964.898 đồng, cả hai Công ty đều xác nhận không thắc mắc nên nó là tranh chấp dân sự.
-          Tuy nhiên đại diện Công ty XNK Tràng Thi là Đỗ Nguyên Hùng trưởng phòng XNK ký hợp đồng không có uỷ quyền là vô hiệu
-          Sơ thẩm xác nhận Công ty Cổ phần An Biên là bị đơn không đúng vì Công ty Cổ phần An Biên không có quan hệ với Công ty XNK Tràng Thi.
Tại bản kháng nghị số Q5/2007/KT-TK ngày 14/4/2007, Chánh án TANDTC đối với bản án phúc thẩm nêu trên, Chánh án đề nghị Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử Giám đốc thẩm huỷ bản án Phúc thẩm số 142/2006/KT ngày 19/7/2006 của Toà án phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội giao hồ sơ để cấp phúc thẩm xét xử lại.
NHẬN XÉT
Bản án sơ thẩm đã xác định đúng các vấn đề:
            -Hiệu lực của hợp đồng ;
            -Quan hệ pháp luật bị tranh chấp và đương sự của vụ án.
Nhưng Toà án phúc thẩm đã sai lầm nghiêm trọng khi đánh giá 3 vấn đề nêu trên và đã huỷ án sơ thẩm thiếu căn cứ không có tính thuyết phục bởi lẽ:
1./ Hiệu lực hợp đồng:
            Về nguyên tắc thì hợp đồng được ký do những người đại diện có thẩm quyền của pháp nhân hoặc đại diện theo uỷ quyền hợp lệ mới phát sinh hiệu lực pháp luật tuy nhiên để tránh những lợi dụng sơ hở của pháp luật của đối tác để gây khó dễ và xây dựng đạo đức kinh doanh ngày càng tốt đẹp trong hoạt động thương mại. Hội đồng thẩm phán TANDTC tại Nghị Quyết số 04/2003/NQ- HĐTP ngày 27/5/2003 đã hướng dẫn: Hợp đồng do người không phải là đại diện hợp pháp của Pháp nhân thiết lập nhưng phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của đơn vị, người đại diện có thẩm quyền của pháp nhân biết, nhưng không phản đối, hợp đồng đã được thực hiện thì không bị coi là vô hiệu. Trong vụ án này cấp Sơ thẩm đã vận dụng đúng tinh thần hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC
2./ Về quan hệ pháp luật bị tranh chấp:
            Trước đây đối với những khoản nợ đã được các bên xác nhận nhưng chưa trả, nếu có tranh chấp đòi thực hiện việc trả tiền thì coi là tranh chấp dân sự theo tinh thần Nghị định 17CP của Chính phủ hướng dẫn thực hiện pháp lệnh hợp đồng kinh tế có nội dung. “Hợp đồng kinh tế chấm dứt nhưng nghĩa vụ trả tiền vẫn tiếp tục”.
            Nay pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã hết hiệu lực, Bộ luật Tố tụng 2005 đã thay thế pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế. Thời hạn khởi kiện kinh tế cũng như dân sự là 2 năm đủ thời gian cho các đơn vị thực hiện quyền của mình. Hướng dẫn cũ không còn phù hợp nữa. Bởi lẽ hợp đồng là những thoả thuận làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Quyền của bên này tương đương với nghĩa vụ của bên kia. Chẳng hạn trong hợp đồng mua bán, người bán có nghĩa vụ giao hàng (chuyển quyền sở hữu) sang người mua thì họ cũng có quyền nhận tiền hàng và ngược lại. Các hành vi giao hàng, và trả tiền chỉ khi nào thực hiện xong mới được coi là việc mua bán hoàn tất. Do đó các tranh chấp pháp sinh theo quy định của điều 29 BLDS dù ở giai đoạn nào của hợp đồng cũng là tranh chấp kinh doanh thương mại.
3/ Đương sự của vụ án:
            Trong vụ án này Công ty cơ khí An Biên ký hợp đồng mua bán với Công ty XNK Tràng Thi. Sau này theo sự sắp sếp lại sản xuất kinh doanh của UBND Thành phố Hải Phòng Công ty đã cổ phần hoá thành công ty Cổ phần An Biên. Khoản nợ của công ty cơ khí An Biên đối với Công ty Cổ Tràng Thi đã được chuyển thành nghĩa vụ của Công ty Cổ phần An Biên. Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần An Biên đã xác nhận nợ và đã trả được một phần, chỉ còn 546.964.898 đồng.
            Theo khoản 2, Điều 8 Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ hướng dẫn về việc chuyển công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần. Thì Công ty cổ phần An Biên có trách nhiệm kế thừa mọi quyền lợi và nghĩa vụ của Công ty cơ khí An Biên trước đây. Cho nên Toà án cấp Sơ thẩm xác định Công ty Cổ phần An Biên là bị đơn của vụ án là đúng.

            Vì lí do đó, Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC số 8/2007/KDTM-GĐT ngày 7/8/2007 đã huỷ bản án phúc thẩm số 142/KTPT ngày 19/7/2006 của Toà phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội để Toà phúc thẩm xét xử lại là đúng đắn.
(Chuyên gia pháp lý Đỗ Cao Thắng; nguồn: toaan.gov.vn)

VỤ ÁN 12: Tranh chấp mua bán máy móc thiết bị giữa DNTN Đông Hoa và CT Liên Hoa tại HCM


Nội dung vụ án:
Doanh nghiệp tư nhân Đông Hoa (Doanh nghiệp Đông Hoa) do bà Dương Thiết Hòn làm chủ. Ngày 24/12/1999, doanh nghiệp Đông Hoa cùng với 5 người Đài Loan khác thành lập liên doanh Liên Hoa. Phía Đông Hoa góp 210.000 USD, trong đó 150.000USD tiền mặt và 60.000USD hàng máy móc.
Bên nước ngoài các ông:
Yang Hui Sheng góp 81.667USD tiền mặt;
Yang Hui Tai góp 81.667USD tiền mặt;
Yang Hui Che góp 81.667USD tiền mặt;
Yang Hui Chi góp 81.667USD tiền mặt;
Yang Kuo Chiang góp 81.667USD tiền mặt;
Yang Kuo Feng góp 81.667USD tiền mặt;
Ngày 01/11/2000, bà Dương Thiết Hòn nhượng lại phần vốn góp của mình cho ông Yang Kuo Chiang 70.000USD và ông Yang Hui Sheng 140.000USD. Như vậy công ty Liên Hoa trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do ông Yang Hui Sheng làm tổng giám đốc. Các bên còn thỏa thuận khi liên doanh Liên Hoa đi vào hoạt động thì phải mua lại toàn bộ máy móc thiết bị hàng tồn kho của công ty Đông Hoa. Doanh nghiệp Đông Hoa đã chuyển số máy móc hàng hóa trên cho Liên Hoa qua 21 hóa đơn toàn bộ giá trị 2.582.106 đồng. Sau đó ngày 01/2/2002, doanh nghiệp Đông Hoa có quyết định số 01/02/QĐ giải thể doanh nghiệp. Ngày 5/5/2005, doanh ghiệp Đông Hoa kiện doanh nghiệp Liên Hoa đòi số tiền giá trị máy móc nói trên mà Liên Hoa chưa thanh toán. Doanh nghiệp Liên Hoa xác nhận có nhận số máy móc nói trên nhưng đã thanh toán xong.
Quá trình giải quyết vụ án:
Tại bản án KDTM sơ thẩm số 245/2005 ngày 29/8/2005 của TANDTC TP.Hồ Chí Minh xử:
Doanh nghiệp Liên Hoa phải thanh toán cho bà Dương Thiết Hòn – chủ doanh nghiệp Đông Hoa số tiền nợ theo 21 hóa đơn là 3.257.865.003 đồng, trong đó có 2.319.616.768 đồng tiền gốc.
Ngày 8/9/2005, doanh nghiệp Liên Hoa kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại bản án số 91/2005/KDTM-PT ngày 29/11/2005 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.Hồ Chí Minh xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị số 04/2007/KT, Chánh án TANDTC kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên, đề nghị HĐTP-TANDTC xét xử giám đốc thẩm hủy án phúc thẩm và sơ thẩm giao hồ sơ cấp sơ thẩm xét xử lại với nhận định:
Bên nguyên đơn đã vi phạm quyền khiếu nại dẫn đến nếu có khả năng mất quyền khởi kiện tại tòa theo điều 241 và 242 Luật thương mại 1997.
Về nội dung, tòa án hai cấp chỉ căn cứ vào 21 hóa đơn giá trị gia tăng để buộc Liên Hoa trả tiền mà không xem xét những chứng cứ khác đặt trong sự tương tác với nhau giữa các chứng cứ một cách toàn diện nên quyết định doanh nghiệp Liên Hoa trả tiền cho doanh nghiệp Đông Hoa chưa có căn cứ thỏa đáng.
Nhận xét:
Các cấp tòa án sơ thẩm và phúc thẩm có sai chung là:
  1. Về tố tụng:
Luật thương mại 1997 quy định quyền khiếu nại gắn liền với quyền khởi kiện (Luật thương mại 2005 đã sửa đổi), cụ thể trong thời hạn 3 tháng phải khiếu nại về số lượng, tiền hàng (xem Nghị quyết số 746/2005/NQ-UBTVQH ngày 28/1/2005 của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích thêm và khoản 2 điều 241 Luật thương mại); trong thời hạn 6 tháng phải khiếu nại về chất lượng; nên ngoài thời hạn đó, theo quy định của khoản 1 điều 241 không khiếu nại sẽ bị mất quyền khởi kiện. Hồ sơ thể hiện 21 hóa đơn của Đông Hoa được phát hành từ ngày 3/8/2001 đến ngày 29/11/2001 có giá trị thanh toán 30 ngày. Nếu Liên Hoa vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Đông Hoa phải khiếu nại trong vòng 30 ngày kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng. Nhưng từ ngày đó đến khi Đông Hoa khởi kiện ra tòa ngày 5/5/2005, các cấp tòa án đã không xem xét đánh giá gì về sự kiện này là thiếu sót. Hiện trong hồ sơ không có tài liệu chứng minh là phía doanh nghiệp Đông Hoa có khiếu nại. Nếu không có tài liệu nào khác thể hiện doanh nghiệp Đông Hoa có khiếu nại nghĩa vụ thanh toán thì Đông Hoa mất quyền khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm trả lại đơn cho đương sự theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 168 BLTTDS.
  1. Về nội dung:
Tòa án các cấp sơ phúc thẩm chỉ căn cứ vào 21 tờ hóa đơn do nguyên đơn xuất trình đã buộc doanh nghiệp Liên Hoa thanh toán tiền cho Đông Hoa. Nhưng trong hồ sơ vụ án còn nhiều chứng cứ, chứng minh cho việc doanh nghiệp Liên Hoa có thể đã trả tiền cho doanh nghiệp Đông Hoa  nhưng không được thẩm tra xem xét cụ thể:
-     Ngày 01/2/2002, Doanh nghiệp Đông Hoa có quyết định giải thể. Thủ tục giải thể phải cân đối các khoản nợ để trả và đòi, thanh toán xong mới được giải thể. Các tài liệu giải thể doanh nghiệp còn lưu giữ không ghi nhận có khoản nợ phải thu của Doanh nghiệp Liên Hoa.
-   Trong thời gian từ ngày đầu tiên phát hành hoá đơn 3/8/2001 có căn cứ cho thấy: Bà Ong Bích Du thủ quỹ của Doanh nghiệp Đông Hoa và cũng là của Liên Hoa đã rút tiền của Doanh nghiệp Liên Hoa ở Ngân hàng ChinFon nộp vào tài khoản của Đông Hoa tại Ngân hàng VietcomBank (rút nhiều lần). Sau đó kế toán trưởng Phạm Thị Thuý Oanh và thủ quỹ Ong Bích Du lại làm thủ tục mua 167.000USD của ngân hàng VietcomBank chi nhánh Tân Thuận, để chuyển trả cho Công ty Start Trading Đài Loan kiểm tra hồ sơ thì được biết số máy móc mà Doanh nghiệp Đông Hoa chuyển nhượng lại cho Doanh nghiệp Liên Hoa là Đông Hoa mua của Công ty Start Trading mà chưa trả tiền. Số tiền này tương đương số tiền máy Đông Hoa chuyển nhượng cho Liên Hoa, và được hành sự trên sổ sách của Doanh nghiệp Đông Hoa. Vì vậy cần làm rõ có phải số tiền Liên Hoa mua máy của Đông Hoa đã được Đông Hoa trả cho công ty Start Trading Đài Loan hay không?

Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 7/8/2007 huỷ bản án phúc thẩm số 91/2005/KDTM-PT ngày 29/11/2005 của Toà phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM và bản án sơ thẩm số 245/KDTM –ST ngày 29/8/2005 giao hồ sơ cho Toà án TP.Hồ Chí Minh sơ thẩm lại là đúng quy định của Pháp luật.
(Chuyên gia pháp lý Đỗ Cao Thắng, nguồn: toaan.gov.vn)

VỤ ÁN 11: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa DNTN Thịnh Phát và CT REXCO tại TP. Hồ Chí Minh


Nội dung vụ án:
            Ngày 21/1/2001, Doanh nghiệp tư nhân Thịnh Phát do ông Tô Ngã Chảy làm giám đốc đại diện ký hợp đồng mua của Công ty REXCO 2200 tấn giấy trắng cuộn. Trị giá 31.900.000đ. Thanh toán 90 ngày kể từ ngày nhận giấy. Tính đến ngày 27/7/2004, Thịnh Phát còn nợ REXCO 5.337.704.433 đồng. Trong đó số nợ tiền hàng là 2,9 tỷ, tiền lãi là 2,4 tỷ. Ngày 27/7/2004, Công ty REXCO khởi kiện đòi Thịnh Phát thanh toán tiền  hàng và lãi kể trên.
            Khi được thông báo khởi kiện, Doanh nghiệp Thịnh Phát đã trả hết tiền hàng còn nợ 2,4 tỷ. Còn tiền lãi Doanh nghiệp trình bày là giấy bán hộ nên không trả lãi 2,4 tỷ mà chỉ đồng ý trả 336.000.000 đồng tiền lãi.
Phụ lục hợp đồng và các văn bản thông báo nợ đều không có khoản lãi, nay không thể tính lãi.
Quá trình giải quyết vụ án:
Tại bản án KTST số 298 ngày 27/12/2004, Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh quyết định bà Quách Cương Lan phải trả cho công ty REXCO 2,4 tỉ lãi chậm thanh toán.
Ngày 04/1/2005 bà Quách Cương Lan chống án, lý do như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Tại bản án KTPT số 40 ngày 01/6/2005, tòa phúc thẩm TANDTC quyết định giữ nguyên án sơ thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị số 04 ngày 27/3/2007, Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên với lý do:
-                      Tòa chưa xét đến công văn ngày 18/10/2009 của Công ty Xuất Nhập Khẩu Ngành In xác nhận hợp đồng đã ký giữa Thịnh Phát và REXCO là hợp đồng giữ hàng bán giúp.
-                    REXCO có lỗi không thông báo cho Thịnh Phát biết tiền lãi phát sinh cũng như đối chiếu công nợ 2 lần không đề cập đến tiền lãi.
-                      Tòa quyết định trả lãi 2,4 tỷ là quá yêu cầu khởi kiện của đương sự 76 triệu.
Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 06 ngày 5/6/2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC quyết định bác kháng nghị của VKSNDTC, giữ nguyên bản án phúc thẩm nêu trên.
Nhận xét:
Bản kháng nghị có những vấn đề chưa chính xác thuộc về đánh giá chứng cứ không được khách quan, toàn diện; đã vận dụng một chứng cứ (văn bản của công ty xuất nhập khẩu ngành in) không có giá trị khách quan.
1.                  Về đánh giá chứng cứ.
Bản hợp đồng ký giữa Thịnh Phát và REXCO cả về nội dung và hình thức là hợp đồng mua bán trong đó quy định quyền và nghĩa vụ của người bán và người mua rõ ràng không thể nhầm lẫn với quyền và nghĩa vụ của người giữ hàng và bán hộ. Công ty xuất nhập khẩu ngành in chỉ là người giới thiệu Thịnh Phát đến mua hàng của REXCO, không có ràng buộc gì về quyền và nghĩa vụ. Văn bản của công ty XNK Ngành In được lập đơn phương và sau khi việc mua bán hoàn tất, công ty REXCO hoàn toàn không biết nên không có giá trị chứng minh và không loại bỏ được hợp đồng mua bán đã có hiệu lực cả về nội dung lẫn hình thức.
2.                  Về khoản tiền lãi:
Trước sau nguyên đơn khởi kiện đều có yêu cầu trả lãi chậm trả. Sở dĩ có sự khác nhau là cách tính theo từng giai đoạn.
Ngày 27/7/2004, REXCO khởi kiện nên lãi chậm trả được tạm tính từ ngày phát sinh vi phạm đến ngày khởi kiện là ngày 27/7/2004. Tuy nhiên đến ngày 1/11/2004 phía bị đơn trả hết nợ gốc. Thay vì tính lãi đến ngày xử sơ thẩm thì lãi được tính đến ngày 01/4/2004 tức là thêm 76 triệu, ứng với thời gian từ 27/7/2004 (ngày khởi kiện) đến ngày 01/11/2004 (trả hết nợ gốc) là đúng chứ không phải vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo Điều 306 Luật thương mại 2005 thì người bị vi phạm có quyền đòi lãi trên số nợ gốc tương ứng với thời gian chậm trả. Như vậy họ có thỏa thuận trong hợp đồng hay không có định kỳ thông báo và xác nhận hay không, không quan trọng, nó được quyết định bởi yêu cầu của người bị vi phạm trên cơ sở nợ gốc và thời gian chậm trả, trừ các đương sự có thỏa thuận khác.

Do đó Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC là đúng.
(Chuyên gia pháp lý Đỗ Cao Thắng; nguồn: toaan.gov.vn)

6/20/2017

VỤ ÁN 10: Tranh chấp hợp đồng đại lý bánh trung thu giữa DNTN TIMI với bà Nguyễn Thị Hạnh tại Đăk Lắk

Nội dung vụ án:
Mùa Trung thu năm 2003 Đại lý Phương Hạnh có ký hợp đồng làm đại lý bán bánh trung thu WONDERFARM cho Công ty Interfood. Theo hợp đồng, đại lý Phương Hạnh nhận hàng tại kho của Công ty TIMI. Về chi phí, điều 2 của hợp đồng ghi “nếu bán trên 100.000.000 đồng tiền hàng được chiết khấu 40%”. Cuối đợt bán hàng tổng cộng đại lý Phương Hạnh bán được 154.956.000 đồng. Số tiền hàng 86.956.000 đồng trả cho Công ty Interfood xong ngày 20/9/2003. Hợp đồng đã được thanh lý.
Doanh nghiệp TIMI khởi kiện đại lý Phương hạnh đòi khoản tiền 67.982.400 đồng với lý do:
Đại lý Phương Hạnh nhận hàng ký sổ của kho TIMI là TIMI bán cho Phương Hạnh. Phương Hạnh mới trả được 86.965.000 đồng cho Interfood, còn phải trả tiếp cho TIMI số tiền hàng còn thiếu như trên.
Đại lý Phương Hạnh không nhất trí cho rằng mình không có quan hệ mua bán với công ty TIMI, chỉ bán đại lý cho Interfood, hai bên đã thanh lý xong hợp đồng, không có thắc mắc. Việc nhận hàng ở kho Công ty TIMI theo chỉ định của Interfood. Quan hệ giữa Interfood với TIMI thế nào là không liên quan đến đại lý Phương Hạnh.
Quá trình giải quyết vụ án:
Bản án sơ thẩm dân sự số 92/2005/DS-ST ngày 2/11/2005 của TAND TP.Buôn Mê Thuột quyết định:
Bác yêu cầu khởi kiện cảu doanh nghiệp TIMI đòi đại lý Phương Hạnh phải trả 67.892.400 đồng.
Ngày 7/11/2005, doanh nghiệp TIMI kháng cáo bản án sơ thẩm nói trên.
Bản án dân sự phúc thẩm số 94/2005/DSPT ngày 22/9/2006 của TAND tỉnh Đắc Lắc sửa án sơ thẩm: buộc bà Nguyễn Thị Hạnh phải trả thanh toán lại cho doanh nghiệp TIMI số tiền 33.991.200 đồng vì lý do:
-Đại lý Phương Hạnh ký nhận bánh từ kho của TIMI
-Đại lý Phương Hạnh và doanh nghiệp TIMI không có thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ nên khoản tiền chiết khấu chia đôi để bảo vệ quyền lợi của các bên.
Ngày 19/7/2007 Viện trưởng Viện KSNDTC kháng nghị bán án DSPT nói trên, yêu cầu Toà Kinh tế huỷ cả bán án sơ thẩm và phúc thẩm, đình chỉ vụ án vì:
1. Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp dân sự là không đúng, phải là quan hệ kinh doanh thương mại và lẽ ra phải trả lại đơn khởi kiện theo Khoản 1 Điều 168 và Khoản 2 Điều 192 BLTTDS.

2. Toà án cấp phúc thẩm buộc đại lý Phương Hạnh trả cho doanh nghiệp TIMI khoản tiền 33 triệu đồng là không đúng, không có chứng cứ pháp lý vì đại lý Phương Hạnh và doanh nghiệp TIMI không quan hệ hợp đồng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên, doanh nghiệp TIMI không có tư cách đi kiện. Cấp phúc thẩm lẽ ta phái áp dụng Điều 278 BLTTDS để huỷ bản án DSST và đình chỉ giải quyết vụ án. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 05 ngày 14/8/2007, Tòa Kinh tế TANDTC đã chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND; huỷ án Phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 92/205/DSTT ngày 2/11/2005.
Nhận xét:
Những thiếu sót của tòa án các cấp:
1. Tòa án cấp sơ thẩm: xác định quan hệ tranh chấp dân sự là không đúng với quy định của Bộ luật TTDS. Điều 29 BLTTDS quy định “các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” bao gồm “đại diện, đại lý”.
Như vậy: cả công ty TIMI và đại lý Phương Hạnh đều thỏa mãn những điều kiện trên nên phải là án kinh tế. Tòa án cấp sơ thẩm xác định là án dân sự là sai.
Tuy nhiên về nội dung, Tòa sơ thẩm đã xét sử đúng, tức là bác yêu cầu kiện đòi 67.892.400 đồng của doanh nghiệp TIMI là đúng.
Cấp giám đốc thẩm nhận định: “đây là vụ án kinh doanh thương mại. Tòa án cấp sơ thẩm xác định vụ án dân sự là không đúng nhưng nội dung vụ án đã xét xử đúng, thiếu sót này không nghiêm trọng chỉ cần rút kinh nghiệm, không cần thiết phải huỷ án sơ thẩm” là chính xác, vừa khắc phục được sai sót, vừa giữ được ổn định của bản án đã xét xử đúng, tránh phiền hà cho các đương sự.
2.      Tòa án cấp phúc thẩm:
Cấp phúc thẩm đã phát hiện được Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ pháp luật bị tranh chấp. Lẽ ra cần nhận định rút kinh nghiệm và y án sơ thẩm thì lại sửa án sơ thẩm, đó là sai lầm lớn nhất. Trong lúc đã có nhận định “doanh nghiệp TIMI và đại lý Phương Hạnh giao nhận bánh không có quy định quyền và nghĩa vụ”. Quyền và nghĩa vụ phải hình thành trên cơ sở hợp đồng hoặc thỏa thuận khác của các đương sự. Trong khi doanh nghiệp TIMI và đại lý Phương Hạnh không có hợp đồng, không có thỏa thuận tay đôi hoặc tay ba giữa Interfood, đại lý Phương Hạnh và doanh nghiệp TIMI thì không thể phát sinh quyền và nghĩa vụ. Cấp phúc thẩm còn nhầm lẫn ở chỗ đã quá nhấn mạnh đến tình tiết đại lý Phương Hạnh nhận hàng và ký sổ của TIMI để cho rằng việc đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa doanh nghiệp TIMI và đại lý Phương Hạnh. Thực chất việc đó là phát sinh từ Hợp đồng đại lý giữa Interfood và đại lý Phương Hạnh, do người giao đại lý chỉ định “giao hàng qua kho của doanh nghiệp TIMI”. Việc giao hàng và trả tiền đôi khi họ ủy quyền để người thứ ba thực hiện không nhất thiết họ phải trực tiếp thực hiện, đó là mối quan hệ giữa họ và người thứ ba. Do vậy mà cấp phúc thẩm đã có quyết định thiếu căn cứ là chia đôi khoản tiền chiết khấu của đại lý Phương Hạnh cho doanh nghiệp TIMI.
Bản Quyết định giám đốc thẩm số 05/2007/KDTM-GĐT ngày 14.08.2007 của Toà Kinh tế - TANDTC quyết định huỷ bản án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm mà không huỷ án sơ thẩm theo đề xuất của VKSNDTC là đúng.
(Chuyên gia pháp lý Đỗ Cao Thắng; nguồn: toaan.gov.vn)

VỤ ÁN 09: Tranh chấp hợp đồng mua bán xe ô tô giữa CT Thiết Bị Phụ Tùng Đà Nẵng với CT Trường Sơn tại Phú Thọ


Nội dung vụ án:
Ngày 30.7.2002, Công ty thiết bị phụ tùng Đà Nẵng (nguyên đơn) có ký hợp đồng số 366/HĐKT bán cho Công ty Trường Sơn (bị đơn) 20 chiếc ô tô Kamaz mới 100% do Liên bang Nga sản xuất trị giá 6.750.000.000 đồng Thanh toán làm 2 đợt, mỗi đợt 50% trong vòng 60 ngày sau khi nhận xe. Nếu thanh toán chậm phải chịu phạt 0,1%/ngày/số tiền chậm thanh toán.
Ngày 29.3.2002, Công ty TNHH Việt Hưng có giấy bảo lãnh số 213/HV thanh toán đợt hai giá trị 3.375.000.000 đồng trong vòng 60 ngày.
Sau khi nhận xe tính đến ngày 27.2.2006 Công ty Trường Sơn mới thanh toán được 5.175.000.000 đồng. Còn nợ 1.575.000.000 đồng gốc và lãi chậm thanh toán từ ngày 01.10.2002 đến ngày 27.02.2006 là 1.058.590.000 đồng lãi.
Ngày 21.3.2005, Công ty thiết bị phụ tùng Đà Nẵng khởi kiện yêu cầu toà án buộc Công ty Trường Sơn và Công ty Việt Hưng bảo lãnh trả nốt số nợ và số lãi nói trên.
Bị đơn: xác nhận số nợ và đồng ý trả tiền hàng còn thiếu nhưng không đồng ý trả lãi vì không có thỏa thuận trong hợp đồng.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: có đồng quan điểm với bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án:
Tại Bản án KDTM sơ thẩm số 01/2006/ST ngày 27.2.2006, TAND TP.Việt Trì đã xử:
Công ty Việt hưng trả cho Công ty thiết bị phụ tùng Đà Nẵng tiền hàng còn thiếu 1.570.000.000 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng và 101.250.000 đồng. Tổng cộng: 1.671.350.000 đồng.
Sau khi có bản án sơ thẩm, nguyên đơn Công ty TBPT Đà Nẵng chống án, xin cấp Phúc thẩm chấp nhận khoản lãi.
Bản án kinh doanh thương mại Phúc thẩm số 01/2006/KDTM-PT ngày 16/5/2006 của TAND tỉnh Phú Thọ đã xử: bác đơn kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
Công ty TBPT Đà Nẵng khiếu nại giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm.
Ngày 29.10.2007, Chánh án TANDTC có Quyết định số 02/2007/KDTM kháng nghị bản án KDTM/PT số 01/KDTM-PT ngày 15/6/2006 với lý do:
-       Theo Điều 233 Luật thương mại 1997 và Điều 306 Luật thương mại 2005 quy định bên bị vi phạm có quyền đòi tiền lãi trên số tiền trả chậm.
-       Theo Điều 368 BLDS 1995 hoặc Điều 363 BLDS năm 2005: “Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại…”
Toà án sơ thẩm và phúc thẩm bác yêu cầu đòi tiền lãi chậm thanh toán trên nợ gốc là không đúng. Đề nghị cấp giám đốc thẩm hủy Bản án phúc thẩm nói trên để giao Phúc thẩm xét xử lại.
            Quyết định giám đốc thẩm số 02/KDTM ngày 30.7.2007 của Tòa Kinh Tế - TANDTC đã chấp nhận kháng nghị của Chánh án, huỷ bản án phúc thẩm nói trên để xét xử lại.
Nhận xét:
Trong vụ án này cả hai cấp Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đều mắc chung một sai lầm:
1.      Chưa hiểu rõ bản chất của hoạt động thương mại.
Hoạt động thương mại là hoạt động tìm kiếm lợi nhuận. Mục đích của hoạt động thương mại là làm thế nào nhân được đồng vốn lên càng nhiều càng tốt. Người xưa nói “nhất bản vạn lợi” một vốn bốn lời là thế. Kinh doanh hòa vốn đã là lỗ cho nên Điều 306 Luật thương mại 2005 quy định “người bị vi phạm có quyền đòi tiền lãi trên số tiền chậm trả” là để ngăn chặn việc các doanh nghiệp lợi dụng chiếm dụng vốn chây ì không trả tiền. Như vậy việc đòi tiền lãi không phụ thuộc vào hợp đồng có thỏa thuận hay không mà phụ thuộc vào người bị vi phạm có yêu cầu hay không trừ khi các bên có thỏa thuận khác.
2.      Các cấp Tòa án chưa nghiên cứu tỉ mỉ Pháp luật.

Việc trả tiền lãi cũng đã được quy định trong Luật thương mại 1997 và Luật thương mại 2005. Quy định rõ ràng dễ hiểu rồi nhưng vẫn cứ sai. Hoặc nghĩa vụ của người bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi, tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại (đương nhiên là cả nợ gốc). Vì vậy trách nhiệm bảo lãnh của Công ty Việt Hưng không chỉ trả thay tiền nợ gốc mà còn cả tiền lãi phát sinh, tiền phạt nếu có trên số nợ gốc. Kháng nghị của Chánh án TANDTC là đúng và bản Quyết định giám đốc thẩm của Tòa Kinh tế, TANDTC hủy bản án phúc thẩm để xử lại theo hướng phân tích trên sẽ buộc Công ty Trường Sơn hoặc người bảo lãnh Công ty Việt Hưng phải trả nợ gốc (tiền hàng còn thiếu) và lãi chậm tính trên số tiền gốc chậm trả là đúng quy định của Phát luật.
(Chuyên gia pháp lý Đỗ Cao Thắng; nguồn: toaan.gov.vn)

VỤ ÁN 08: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa VietinBank và CT Ngọc Quang tại Bình Dương

Vấn đề pháp lý:

Đáo hạn hợp đồng tín dụng (có biện pháp bảo đảm), bên vay không có khả năng trả nợ, bên cho vay có quyền tự xử lý tài sản thế chấp, cầm cố theo hợp đồng hay không? Trong các hợp đồng tín dụng có biện pháp bảo đảm (cầm cố, thế chấp), các bên có thỏa thuận về việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, trong trường hợp bên vay vi phạm hợp đồng hoặc không trả được nợ khi đến hạn thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản theo phương thức mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố, thế chấp nếu không có căn cứ xác định thỏa thuận đó vô hiệu.
Nội dung vụ án:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Bình Dương (sau đây gọi tắt là VietinBank) và Công ty TNHH Ngọc Quang (sau đây gọi tắt là Công ty Ngọc Quang) đã ký kết với nhau nhiều hợp đồng tín dụng. Tính đến 2006, hai bên xác nhận còn lại 13 hợp đồng tín dụng quá hạn chưa thanh toán với tổng số tiền nợ gốc là 12.264.300.000 đồng. Để đảm bảo cho các khoản vay của 13 hợp đồng tín dụng này, hai bên đã ký kết với nhau 9 hợp đồng cầm cố, thế chấp.
Đến hạn thanh toán nợ, Công ty Ngọc Quang không thanh toán được nợ của 13 hợp đồng tín dụng trên, VietinBank căn cứ vào điều khoản xử lý tài sản cầm cố, thế chấp trong các hợp đồng cầm cố, thế chấp để tự mình bán các tài sản đã cầm cố, thế chấp cho Công ty Cổ phần Cơ khí Đồng Lực (sau đây gọi tắt là Công ty Đồng Lực) thu được 10.050.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán tài sản đã thanh toán cho một số hợp đồng tín dụng, nhưng công ty Ngọc Quang vẫn còn nợ VietinBank 5.273.000.000 đồng (gồm nợ gốc và lãi của các hợp đồng tín dụng chưa được thanh toán). VietinBank khởi kiện yêu cầu công ty Ngọc Quang thanh toán cho VietinBank số tiền 5.273.000.000 đồng.
Công ty Ngọc Quang cho rằng việc VietinBank tự ý xử lý tài sản cầm cố, thế chấp là vi phạm pháp luật về xử lý tài sản cầm cố, thế chấp; việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải do Tòa án quyết định. Công ty Ngọc Quang còn phản tố yêu cầu Tòa án tuyên bố các hợp đồng mua bán tài sản giữa VietinBank và Công ty Đồng Lực là vô hiệu.
Tại bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 20/2009/KDTM-ST ngày 30/9/2009, TAND tỉnh Bình Dương đã quyết định không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc VietinBank và Công ty Đồng Lực trả lại cho Công ty Ngọc Quang toàn bộ tài sản theo hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng cầm cố,thế chấp. Bản án sơ thẩm bị kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 89/2010/KDTM-PT ngày 10/6/2010, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đã quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
Tại phiên họp ngày 9/01/2014, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao cho TAND tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm lại. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng là:
- Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm nhận định việc VietinBank xử lý tài sản bảo đảm không tuân theo trình tự thủ tục quy định tại Nghị định số 163/2006/CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ nhưng không đưa ra được căn cứ VietinBank đã vi phạm quy định nào của Nghị định cũng như các quy định khác của pháp luật.
- Tại các hợp đồng cầm cố, thế chấp giữa VietinBank và Công ty Ngọc Quang đã có các thỏa thuận về việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, cụ thể là: “Trường hợp bên A vi phạm hợp đồng tín dụng thì phải chấp nhận phương thức xử lý tài sản cầm cố (hoặc tài sản thế chấp) của bên B”“Trường hợp bên A không trả được nợ cho bên B như đã thỏa thuận, bên B được toàn quyền xử lý tài sản cầm cố (hoặc thế chấp) để thu hồi nợ theo các phương thức do bên B quyết định như sau: Trực tiếp bán tài sản cầm cố (hoặc thế chấp) cho người mua...”. Theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm thì: “Quyền sử dụng đất thế chấp được xử lý theo phương thức do các bên thỏa thuận; trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bán đấu giá để thanh toán nghĩa vụ”. Theo quy định tại Điều 118 Luật nhà ở năm 2005 thì: “Việc xử lý nhà ở thế chấp để thực hiện nghĩa vụ được thực hiện thông qua hình thức bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác...”. Do vậy, VietinBank xử lý tài cầm cố, thế chấp theo thỏa thuận trong hợp đồng của các bên là có căn cứ, đúng pháp luật./.

(Chu Minh - Nguyễn Tứ, nguồn: toaan.gov.vn)

VỤ ÁN 07: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và ủy thác đầu tư giữa bà Nguyễn Thị Dậu và CTCP Khoáng sản và Đầu tư Vinashin tại Hà Nội

Vấn đề pháp lý:

Cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác không hạn chế không? Nếu vi phạm điều kiện chuyển nhượng thì xác định lỗi như thế nào?
Cổ đông sáng lập của công ty cổ phần bị hạn chế chuyển nhượng theo Khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp 2005. Khi hợp đồng chuyển nhượng cổ phần bị vô hiệu do vi phạm điều kiện quy định ở khoản 5 do chưa có ý kiến chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông thì phải xác định lỗi chính là của bên chuyển nhượng.
Nội dung vụ án:
Công ty Cổ phần Du lịch Đống Đa là loại hình doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa, Công ty đăng ký kinh doanh lần đầu vào ngày 8/4/2005. Bà Nguyễn Thị Dậu là một trong những cổ đông sáng lập của Công ty Cổ phần Du lịch Đống Đa. Ngày 12/10/2007, bà Dậu ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và ủy thác đầu tư số 033 với Công ty Cổ phần Khoáng sản và Đầu tư Vinashin (gọi tắt là Vinashin). Theo hợp đồng, bà Dậu thỏa thuận sẽ chuyển nhượng cho Vinashin 23.400 cổ phần phổ thông đồng thời đàm phán và mua lại của các cổ đông khác 3.240 cổ phần. Vinashin đặt cọc cho bà Dậu 35 tỷ đồng và bà Dậu chuyển cho Vinashin 18.448 cổ phần để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng. Hai bên thỏa thuận đến ngày 25/4/2008 sẽ thực hiện xong các thủ tục chuyển nhượng cổ phần. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng, bà Dậu thì cho rằng Vinashin vi phạm nghĩa vụ thanh toán dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng không thực hiện được còn Vinashin lại cho rằng bà Dậu không thực hiện các thủ tục chuyển nhượng cổ phần theo thỏa thuận của hai bên. Do vậy, ngày 23/11/2009, bà Dậu khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và ủy thác đầu tư số 033.
Tại bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 46/2010/KDTM-ST ngày 05/4/2010, TAND thành phố Hà Nội đã quyết định công nhận hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và ủy thác đầu tư số 033 và buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng. Bản án sơ thẩm bị kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 152/2010/KDTM-PT ngày 16/9/2010, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đã quyết định hủy hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và hợp tác đầu tư số 033 và buộc bà Dậu hoàn trả Vinashin toàn bộ số tiền đã nhận trong quá trình thực hiện hợp đồng. Bị đơn có khiếu nại. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
Tại phiên họp giám đốc thẩm ngày 17/4/2014, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán các vấn đề pháp lý quan trọng là:
- Tại thời điểm bà Dậu ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và ủy thác đầu tư số 033 với Vinashin thì bà Dậu là cổ đông sáng lập và bà Dậu vẫn bị hạn chế chuyển nhượng cổ phần theo Khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp 2005. Khoản 5 Điều 84 quy định: “Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ”.
- Hợp đồng 033 được ký kết khi chưa có sự chấp thuận chuyển nhượng của Đại hội đồng cổ đông nên hợp đồng 033 vô hiệu. Nếu là hợp đồng có hiệu lực thì phải căn cứ vào hợp đồng để xác định vi phạm và trách nhiệm dân sự. Nhưng với hợp đồng vô hiệu thì phải căn cứ vào việc ai có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ hợp đồng vô hiệu. Thực tế, các bên tham gia hợp đồng 033 có thỏa thuận bổ sung bà Dậu phải tổ chức Đại hội cổ đông để nhận được sự chấp thuận của đa số các cổ đông về việc bà Dậu chuyển nhượng cổ phần cho phù hợp với Điều 84 nêu trên. Tuy nhiên, bà Dậu đã không thực hiện thỏa thuận này nên phải xác định bà Dậu là người có lỗi chính làm cho hợp đồng vô hiệu.
- Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng số 033 là không đúng, còn Tòa án cấp phúc thẩm hủy hợp đồng số 033 buộc bà Dậu trả lại cho Vinashin 45 tỷ đồng đã nhận nhưng không buộc Vinashin trả lại bà Dậu 18.448 cổ phần đồng thời chỉ xác định Vinashin có lỗi cũng là không đúng./.

(Chu Minh - Nguyễn Tứ; nguồn: toaan.gov.vn)

VỤ ÁN 06: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa CT Cẩn Vân và CT Bảo hiểm Nhà Rồng tại Tp. Hồ Chí Minh

Vấn đề pháp lý:
Trường hợp chuyển giao xe ô tô cho bên thứ ba theo hợp đồng cho thuê tài chính thì phải thông báo về tình trạng bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với chiếc xe. Chủ xe là bên chuyển giao và công ty bảo hiểm bị xác định là có lỗi nếu trong các trường hợp: (i) hai bên hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với xe; điều chỉnh lại hợp đồng bảo hiểm nhưng không thông báo cho bên nhận chuyển giao;(ii) không thu hồi giấy chứng nhận bảo hiểm; hoặc (iii) không thông báo giấy chứng nhận bảo hiểm hết hiệu lực.
Luật kinh doanh Bảo hiểm và Quy tắc bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC) quy định giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng về việc giao kết hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ “cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm”.
Nội dung vụ án:
Theo hồ sơ vụ án, ngày 27/11/2006 Công ty cho thuê tài chính II - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (“Công ty Cho thuê tài chính II”) và Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Vận tải Phương Thảo (“Công ty Phương Thảo”) ký Hợp đồng cho thuê tài chính số 184/06. Theo đó, Công ty cho thuê tài chính II cho Công ty Phương Thảo thuê 24 chiếc xe ôtô, trong đó có chiếc xe ô tô khách 29 chỗ hiệu Transinco 1/5 K29 mang biển kiểm soát 53M-7538.
Ngày 29/12/2006, Công ty cổ phần Bảo hiểm Nhà Rồng (“Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng”) cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm xe cơ giới cho xe ô tô 53M-7538; chủ xe là Công ty cho thuê tài chính II; tổng phí bảo hiểm: 2.164.000 đồng; hiệu lực bảo hiểm là một năm tính từ 08 giờ ngày 01/1/2007 đến 08 giờ ngày 01/1/2008 cho Công ty Phương Thảo.
Nhưng đến ngày 11/1/2007, Công ty Phương Thảo mới ký Hợp đồng bảo hiểm xe ôtô số 1A1131 với Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng để mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với người thứ ba, bảo hiểm tai nạn tài xế, người ngồi trên xe) cho những chiếc xe ô tô thuê của Công ty cho thuê tài chính II, trong đó có chiếc xe 53M-7538. Hợp đồng bảo hiểm này có hiệu lực một năm từ 8 giờ ngày 01/1/2007 đến 8 giờ ngày 01/1/2008, chỉ có hiệu lực khi người được bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn. Riêng đối với bảo hiểm thân xe thì Công ty cho thuê tài chính II đã ký hợp đồng mua của Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO Sài Gòn).
Ngày 12/1/2007, Công ty Phương Thảo ký Bản thỏa thuận với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Cẩn Vân (“Công ty Cẩn Vân”). Bản thỏa thuận có nội dung Công ty Phương Thảo chuyển giao cho Công ty Cẩn Vân 5 chiếc xe ô tô 29 chỗ hiệu Transinco 1/5 K 29 (trong đó có chiếc xe 53M-7538) mà Công ty Phương Thảo đã thuê của Công ty cho thuê tài chính II trước đó; theo thỏa thuận thì đối với Bảo hiểm thân xe, Công ty Cẩn Vân sẽ được hưởng thụ tiếp tục phần còn lại do Công ty Phương Thảo đã mua trước.
Ngày 18/1/2007, Công ty Phương Thảo có giấy đề nghị Công ty cho thuê tài chính II cho chuyển 5 chiếc xe trên cho Công ty Cẩn Vân thuê lại, mục đích là chuyển đối tác thuê tài chính. Trong giấy đề nghị này cũng ghi rõ là Công ty Cẩn Vân sẽ được hưởng tiếp tục phần còn lại của bảo hiểm thân xe mà Công ty Phương Thảo đã mua. Ngày 31/1/2007, Công ty cho thuê tài chính II đồng ý cho Công ty Cẩn Vân thuê lại 05 xe ô tô nói trên.
Cùng ngày, Công ty cho thuê tài chính II và Công ty Phương Thảo lập Biên bản thanh lý một phần Hợp đồng cho thuê tài chính số 184/06 ngày 27/11/2006 đối với 5 chiếc xe ô tô đó. Đồng thời, Công ty cho thuê tài chính II ký Hợp đồng cho thuê tài chính số 013/07 ngày 31/1/2007 với Công ty Cẩn Vân kèm theo các phụ lục về việc cho thuê 5 chiếc xe ô tô, trong đó có chiếc xe 53M-7538 và theo quy định tại hợp đồng này thì Công ty Phương Thảo có trách nhiệm chỉ định Công ty bảo hiểm và làm thủ tục mua bảo hiểm và Công ty cho thuê tài chính II có trách nhiệm thanh toán phí bảo hiểm 1 lần trong suốt thời gian thuê. Cũng trong ngày 31/1/2007, Công ty Phương Thảo đã tiến hành bàn giao 5 chiếc xe ô tô đó và giấy tờ kèm theo cho Công ty Cẩn Vân trước sự chứng kiến của Công ty cho thuê tài chính II.
Ngày 30/3/2007, Công ty Phương Thảo có văn bản thông báo cho Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng biết là bắt đầu từ tháng 01/2007, Công ty Phương Thảo chuyển nhượng 5 chiếc xe ô tô trên cho Công ty Cẩn Vân và yêu cầu Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng điều chỉnh lại Hợp đồng bảo hiểm xe ô tô số 1A1131, chuyển 5 chiếc xe đó cho Công ty Cẩn Vân chịu trách nhiệm thanh toán với bảo hiểm.
Ngày 02/4/2007, Công ty Phương Thảo có công văn gửi Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng đề nghị hủy bỏ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với 5 chiếc xe (trong đó có chiếc xe 53M-7538) thuộc Hợp đồng bảo hiểm xe ô tô số 1A1131, Công ty Phương Thảo không chịu trách nhiệm đối với 5 chiếc xe này và đề nghị điều chỉnh lại hợp đồng.
Ngày 03/4/2007, Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng thông báo cho Công ty Phương Thảo biết việc chấp nhận hủy hiệu lực bảo hiểm trách nhiệm dân sự của 5 chiếc xe ô tô và đồng ý sửa đổi lại hợp đồng bảo hiểm xe ô tô nêu trên. Cùng ngày, Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng và Công ty Phương Thảo đã ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 1B1131, theo đó 5 chiếc xe ô tô, trong đó có chiếc xe 53M-7538 bị loại bỏ khỏi hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Ngày 22/7/2007, chiếc xe 53M-7538 chở khách đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến địa phận phường Cam Nghĩa, thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa gây tai nạn làm 27 hành khách trên xe bị thương, 1 trụ điện và chiếc xe ô tô 53M-7538 bị hư hỏng. Sau khi tai nạn xảy ra, Công ty Cẩn Vân có báo cho Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng biết và Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng đã cử người đi xác minh, thu thập hồ sơ.
Sau khi xác minh, Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng có văn bản thông báo từ chối bồi thường gửi cho Công ty cho thuê tài chính II và Công ty Phương Thảo, với lý do từ chối bồi thường là “chiếc xe ô tô 53M-7538 là 1 trong 5 chiếc xe được phía Công ty yêu cầu bằng văn bản về việc hủy bỏ hiệu lực bảo hiểm trách nhiệm dân sự từ ngày 02/4/2007 và được sự chấp thuận bằng Văn bản số 0011 của Công ty chúng tôi ngày 3/4/2007 (đính kèm hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 1B1131)”.
Nay Công ty Cẩn Vân khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty cổ phần Bảo hiểm Nhà Rồng phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cẩn Vân số tiền bảo hiểm cho chiếc xe ô tô 53M-7538 bị tai nạn là 110.000.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đồng thời tách quan hệ về nộp phí bảo hiểm trách nhiệm dân sự ra giải quyết thành vụ kiện khác. Bản án sơ thẩm bị kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên họp giám đốc thẩm ngày 30/9/2009, Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm; giao hồ sơ vụ án cho TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại. Trong Quyết định của Hội đồng Giám đốc thẩm có một số vấn đề pháp lý quan trọng như sau:
- Điều khoản hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm quy định hợp đồng chỉ có hiệu lực khi người được bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn. Nhưng Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cho Công ty cho thuê tài chính II trước khi ký kết hợp đồng với Công ty Phương Thảo. Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm thì việc mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự là nghĩa vụ bắt buộc đối với chủ xe cơ giới. Chủ chiếc xe mang biển kiểm soát số 53M-7538 là Công ty cho thuê tài chính II nhưng người ký hợp đồng mua bảo hiểm lại là Công ty Phương Thảo. Theo Điều 14 Luật kinh doanh bảo hiểm và Điều 3 Quy tắc bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới được ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC ngày 25/2/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm. Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm thì Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ “cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm”. Nhưng trong trường hợp này Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho chiếc xe 53M-7538 từ ngày 29/12/2006 (trước khi ký hợp đồng bảo hiểm) và ghi rõ “hiệu lực bảo hiểm từ 8 giờ ngày 01/01/2007 đến 8 giờ ngày 01/01/2008”. Như vậy, có sự mâu thuẫn với quy định nêu trên của Luật kinh doanh bảo hiểm và thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng bảo hiểm. Bên cạnh đó, các bên cũng có lời khai không thống nhất về việc thanh toán hợp đồng bảo hiểm và cũng cung cấp hóa đơn, chứng từ về việc nộp phí bảo hiểm.
- Công ty Phương Thảo và Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng là bên có lỗi do không thông báo cho Công ty Cẩn Vân biết việc hủy bỏ hiệu lực bảo hiểm đối với chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát số 53M-7538. Sau khi chuyển giao chiếc xe, Công ty Phương Thảo và Công ty Nhà Rồng đã thỏa thuận hủy bỏ bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với chiếc xe này và điều chỉnh lại hợp đồng bảo hiểm nhưng không thông báo cho Công ty Cẩn Vân là người đang quản lý, sử dụng chiếc xe biết và cũng không thu hồi giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc thông báo giấy chứng nhận bảo hiểm hết hiệu lực. Chính vì vậy Công ty Cẩn Vân đã tiếp tục sử dụng giấy chứng nhận bảo hiểm này cho đến ngày xảy ra tai nạn trong quá trình lưu thông xe.
- Việc xác định trách nhiệm bồi thường hợp đồng bảo hiểm nếu chỉ căn cứ vào Giấy chứng nhận bảo hiểm xe cơ giới là chưa có đủ căn cứ vững chắc mà cần phải làm rõ cơ sở xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm cũng như sự việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Bên cạnh đó, cần phải xem xét hiệu lực của giấy chứng nhận bảo hiểm trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đã bị hủy bỏ, đồng thời phải làm rõ trách nhiệm của Công ty cho thuê tài chính II (Chủ xe), Công ty Phương Thảo, Công ty Cẩn Vân và Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng để xác định trách nhiệm và mức độ bồi thường thiệt hại./.

(Lg. Võ Văn Tú)
 
 
Blogger Templates