Pages

HOME

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

6/07/2013

Hỏi Đáp Về Lệnh Thị Trường

Lệnh thị trường là gì?
Lệnh thị trường (MP) là lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường cổ phiếu.

Mục đích của việc triển khai lệnh thị trường?
Lệnh thị trường là loại lệnh gắn liền với phương thức giao dịch khớp lệnh liên tục.Việc áp dụng lệnh thị trường sẽ cung cấp cho nhà đầu tư thêm công cụ đặt lệnh, tạo tính linh hoạt trong đợt giao dịch khớp lệnh liên tục (hiện đang chiếm 80% tổng thời gian giao dịch).

Khi nào áp dụng lệnh thị trường?
HOSE sẽ tiến hành triển khai thí điểm lệnh thị trường trong vòng 3 tháng,thời điểm áp dụng bắt đầu từ ngày 02/07/2012.

Cách thức khớp lệnh của lệnh thị trường?
Khi được nhập vào hệ thống giao dịch, lệnh thị trường mua sẽ được thực hiện ngay tại mức giá bán thấp nhất và lệnh thị trường bán sẽ thực hiện ngay tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh thị trường vẫn chưa được thực hiện hết, lệnh thị trường sẽ được xem là lệnh mua tại mức giá bán cao hơn hoặc lệnh bán tại mức giá mua thấp hơn tiếp theo hiện có trên thị trường và tiếp tục so khớp.
Nếu khối lượng đặt lệnh vẫn còn (khi khối lượng bên đối ứng đã hết), lệnh thị trường mua sẽ chuyển thành lệnh giới hạn mua cao hơn mức giá khớp cuối cùng một đơn vị yết giá, hoặc lệnh thị trường bán sẽ chuyển thành lệnh giới hạn bán thấp hơn mức giá khớp cuối cùng một đơn vị yết giá. Trường hợp giá khớp cuối cùng là giá trần đối với lệnh thị trường mua hoặc giá sàn đối với lệnh thị trường bán thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại giá trần hoặc lệnh giới hạn bán tại giá sàn.

Đặc điểm của lệnh thị trường?
Lệnh thị trường chỉ được sử dụng trong đợt giao dịch khớp lệnh liên tục.
Khi đặt lệnh thị trường, nhà đầu tư sẽ ghi “MP” tại trường mức giá.
Lệnh thị trường sẽ tự động hủy nếu không có lệnh giới hạn đối ứng tại thời điểm nhập lệnh vào hệ thống giao dịch.

Khi sử dụng lệnh thị trường nhà đầu tư cần lưu ý gì?
Với đặc điểm “chấp nhận mức giá thị trường” lệnh thị trường không đặt ra mức giá cụ thể, lệnh sẽ được khớp với các mức giá đối ứng tốt nhất trên thị trường.Vì vậy nhà đầu tư cần thận trọng và cân nhắc khi sử dụng.
Do có độ trễ trong quá trình xử lý của hệ thống giao dịch, lệnh thị trường có thể bị từ chối nếu hệ thống giao dịch chưa hoàn tất quá trình khớp lệnh xác định giá mở cửa hoặc hệ thống đang chuẩn bị dữ liệu tại thời điểm đầu phiên giao dịch buổi chiều.

So sánh các đặc điểm khác nhau cơ bản giữa lệnh thị trường và lệnh giới hạn? Có 2 điểm khác nhau cơ bản là:
Thời gian lệnh được sử dụng: Lệnh thị trường chỉ được sử dụng trong khớp lệnh liên tục, trong khi lệnh giới hạn được sử dụng trong tất cả các đợt khớp lệnh.
Giá khớp lệnh: Do chấp nhận mức giá thị trường nên lệnh thị trường không đặt ra mức giá cụ thể mà sẽ được khớp với các mức giá đối ứng tốt nhất trên thị trường. Trong khi đó, lệnh giới hạn đặt ra một mức giá cụ thể và lệnh chỉ được khớp tại mức giá bằng hoặc tốt hơn mức giá giới hạn đặt ra (nếu là lệnh giới hạn mua thì giá khớp thấp hơn hoặc bằng giá đặt mua, nếu là lệnh giới hạn bán thì giá khớp cao hơn hoặc bằng giá đặt bán).
- Đối với lệnh mua giá trần/bán giá sàn, khối lượng còn lại của lệnh chưa được khớp (nếu có) vẫn chờ trên sổ lệnh tại mức giá trần/sàn. Trong khi đó, khối lượng còn lại chưa được khớp (nếu có) của lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua với giá cao hơn mức giá khớp cuối cùng một đơn vị yết giá (hoặc lệnh giới hạn bán với giá thấp hơn mức giá khớp cuối cùng một đơn vị yết giá), ngoại trừ trường hợp giá khớp cuối cùng là giá trần/sàn.

6/06/2013

Phát Hành Cổ Phiếu Lần Đầu Ra Công Chúng (IPO)


1. IPO 

Facebook phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) ngày 18/05/2012

IPO ( Initial Public Offering) có nghĩa là phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu. Theo thông lệ tài chính trong kinh doanh, việc phát hành này có nghĩa là một doanh nghiệp lần đầu tiên huy động vốn từ công chúng rộng rãi bằng cách phát hành các cổ phiếu phổ thông. Nghĩa là cổ phiếu ghi nhận quyền sở hữu đúng nghĩa và người nắm giữ có quyền biểu quyết trong các kỳ họp Đại hội đồng cổ đông thường niên hay bất thường. Một phần của IPO có thể là chuyển nhượng cổ phần của cổ đông hiện hữu.
Như vậy, IPO với mỗi doanh nghiệp chỉ có một lần duy nhất, và sau khi đã IPO thì các lần phát hành cổ phiếu sau sẽ được gọi là phát hành cổ phiêu trên thị trường thứ cấp. IPO có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp, vì với bất kỳ doanh nghiệp nào, đây cũng là thử thách đầu tiên và quan trọng nhất đối với hàng loạt khía cạnh vận hành. Nguyên nhân của thử thách này là do doanh nghiệp trước khi được phép tiến hành huy động vốn rộng rãi phải đáp ứng hàng loạt các quy định phát hành ngặt nghèo và quy chế báo cáo thông tin rất nghiêm khắc.
IPO khác hoàn toàn với việc một cổ đông hiện hữu bán lượng cổ phần đang nắm giữ - hành vi sau này gọi là chào bán cổ phần (Offer for sale).
Về mặt thủ tục, IPO thường liên quan tới một hay một số công ty tài chính đặc biệt gọi là ngân hàng đầu tư, ở VN gọi là công ty chứng khoán. Những trung gian tài chính này làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ và bảo lãnh phát hành. Công ty tiến hành bán cổ phần IPO được gọi là nhà phát hành. Những vụ phát hành lớn thường do một nhóm các ngân hàng đầu tư hợp thành một nhóm Xanh-đi-ca (syndicate) để phân chia công việc và rủi ro. Trong số này có một tổ chức đứng ra làm Nhà bảo lãnh chính và chiếm hết phần lớn phí bảo lãnh phát hành. Trên thế giới mức phí này chiếm lên đến 8% tổng số tiền cổ phần bán được và kèm theo nhiều điều khoản khác.

2. Cách thức bán của IPO

Việc chào bán cổ phần rộng rãi ra công chúng lần đầu tiên có nhiều cách thức tiến hành. Các dạng có thể là: 
(1) Đấu giá kiểu Hà – Lan; 
(2) Bảo lãnh cam kết; 
(3) Dịch vụ với trách nhiệm cao nhất; 
(4) Mua buôn để chào bán lại; và 
(5) Tự phát hành.
Do lượng thủ tục pháp lý và chế tài khá chặt chẽ và rắc rối, mỗi vụ IPO thường cần một vài công ty Luật hỗ trợ. IPO có thể bao gồm một phần trong đó việc cổ đông hiện tại chuyển nhượng quyền sở hữu với số cổ phiếu hiện tại theo cách ta gọi là giao dịch thứ cấp, mặc dù vai trò được nhấn mạnh chủ yếu của IPO là phát hành mới và lần đầu ra công chúng để huy động một lượng vốn góp đáng kể. Tuy nhiên theo thông lệ thế giới cả luật pháp chứng khoán lẫn quy ước của các công ty bão lãnh phát hành đều hạn chế chức năng chuyển nhượng lượng cổ phần hiện hành theo phương thức giao dịch thứ cấp.
IPO thường được bán cho các nhà đầu tư, với quy mô lớn và cũng dành ra một tỷ lệ nhỏ bán cho các khách hàng cá nhân quan trọng do công ty bảo lãnh đứng ra dàn xếp. Ở các thị trường đã phát triển, các nhà phát hành thưởng thả lỏng một điều khoản cho phép nhà bảo lãnh phát hành có thể tự ý tăng quy mô phát hành IPO lên tới 15% so với dự kiến theo kế hoạch đã thông nhất để linh hoạt phản ứng trước nhu cầu thị trường, gọi là phương án greenshoe. Greenshoe là điều khoản được nhất trí thực thi khi nhu cầu thị trường tăng quá cao, đẩy giá lên, thì việc phát hành thêm tối đa 15% giúp bình ổn giá. Đôi lúc nhà phát hành không đồng ý vì họ không có nhu cầu sử dụng số tiền tăng thêm do lượng cổ phần bán ra.

3. Giá cổ phần qua IPO

Nhiều nghiên cứu nghiêm bằng lý thuyết thực chứng trên thế giới cho thấy rằng ở phạm vi rât rộng, thường giá cổ phần bán qua IPO được định giá dưới mức thị trường. Hiệu ứng dưới giá này nhằm tạo ra sức hấp dẫn cho các cổ phiếu giao dịch sau IPO, tạo thanh khoản tốt về lâu dài cho công ty.

4. Dấu lặng thị trường

Sau giai đoạn IPO ồn ào, giao dịch cổ phiếu thứ cấp đi vào ‘giai đoạn dấu lặng”. Theo quy định nhiều thị trường, các công ty bảo lãnh và những người có liên quan mật thiết tới vận hành kinh doanh của doanh nghiệp bị cấm đưa ra các dự báo về doanh thu và lợi nhuận tương lai trong “giai đoạn dấu lặng”. Trước kia, UBCK Mỹ áp dụng “giai đoạn dấu lặng” là 25 ngày kể từ ngày IPO, nhưng tới năm 2002 đã tăng lên 40 ngày, nhằm tránh việc các đối tác có thông tin lũng đoạn và gây ảnh hưởng thiên lệch đến thị trương bằng thông tin.
Sau giai đoạn này các công ty bảo lãnh chính sẽ tiến hành công bố các nghiê cứu liên quan tới cổ phiếu của công ty IPO.

6/04/2013

Thành Viên Lưu Ký Chứng Khoán

1. Thành viên lưu ký chứng khoán (TVLKCK)

Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn (SSI) là một trong các thành viên lưu ký chứng khoán


Thành viên lưu ký chứng khoán là công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam được UBCKNN cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán và được TTLKCK chấp thuận trở thành Thành viên lưu ký. 
Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) quy định thành viên của VSD bao gồm thành viên lưu ký và thành viên mở tài khoản trực tiếp ( riêng thành viên mở tài khoản trực tiếp sẽ được đề cập trong bài sau).

2. Điều kiện trở thành TVLKCK

Điều kiện cần thiết để công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại trở thành thành viên lưu ký chứng khoán của TTLKCK. Đối với ngân hàng thương mại phải đáp ứng ba điều kiện sau: 
(a) có giấy phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam;
(b) Nợ quá hạn không quá năm phần trăm tổng dư nợ, có lãi trong năm gần nhất; 
(c) Có địa điểm, trang bị, thiết bị, phục vụ hoạt động đăng ký, lưu ký, thanh toán các giao dịch chứng khoán. 

Còn đối với công ty chứng khoán phải đáp ứng hai điều kiện: có giấy phép thành lập và hoạt động thực hiện môi giới và tự doanh chứng khoán; có địa điểm, trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động đăng ký, lưu ký, thanh toán các giao dịch chứng khoán.

Công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại nộp cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước(UBCKNN) hồ sơ đăng ký lưu ký chứng khoán bao gồm:
-Giấy đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán;
-Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, kỹ thuật đảm bảo hoạt động lưu ký chứng khoán;
-Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của năm gần nhất, trừ trường hợp công ty chứng khoán mới thành lập.

UBCKNN nhận hồ sơ đăng ký và giải quyết trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ, trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại phải làm thủ tục đăng ký thành viên lưu ký tại TTLKCK và tiến hành hoạt động. Quá thời hạn nêu trên mà không đăng ký thành viên lưu ký tại TTLKCK thì CTCK, NHTM sẽ bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký.
CTCK, NHTM làm thủ tục đăng ký làm thành viên lưu ký của VSD phải chuẩn bị hồ sơ gồm:
- Giấy đăng ký làm thành viên và đề nghị mở tài khoản lưu ký;
- Bản sao hợp lệ giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán do UBCKNN cấp;
- Bản sao hợp lệ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động do cơ quan có thẩm quyền cấp;
- Danh sách thành viên Ban giám đốc phụ trách hoạt động lưu ký và nhân viên nghiệp vụ lưu ký kèm theo và mẫu chữ ký, mẫu dấu và giấy ủy quyền cho nhân viên giao nhận chứng từ;
-Các tài liệu chứng minh thành viên Ban giám đốc và các nhân viên nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu quy định tại quy chế thành viên (Điểm a, b khoản 2 Điều 2 Quy chế thành viên VSD).
- Các quy trình hoạt động nghiệp vụ đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán, thực hiện quyền cho người sở hữu;
- Bản thuyết minh về phần mềm và máy móc trang thiết bị cho từng nghiệp vụ quản lý của người đầu tư và hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ.
Thủ tục đăng ký thành viên lưu ký chứng khoán áp dụng cho các đối tượng là cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính nhà nước.

3. Quyền và nghĩa vụ của thành viên lưu ký

Thành viên lưu ký có quyền cung cấp dịch vụ lưu ký và thanh toán các giao dịch chứng khoán cho khách hàng, quyền thu phí theo quy định của Bộ Tài chính và các quyền khác theo quy định và quy chế của TTLKCK. 
Về nghĩa vụ, thành viên lưu ký phải tuân thủ nghĩa vụ của TTLKCK, cụ thể quy định tại Điều 46 Luật Chứng khoán 2010.  Bên cạnh đó, thành viên lưu ký còn có nghĩa vụ đóng góp quỹ hỗ trợ thanh toán (hình thành từ sự đóng góp của các thành viên lưu ký để thanh toán trong trường hợp thành viên lưu ký tạm mất khả năng thanh toán giao dịch chứng khoán theo quy chế và các nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật và quy chế TTLKCK.

6/03/2013

Trung Tâm Lưu Ký Chứng Khoán

 1. Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK)
  

Trung tâm lưu ký chứng khoán là nơi hỗ trợ xử lý các hoạt động sau giao dịch chứng khoán. Là pháp nhân thành lập và hoạt động theo mô hình của công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của luật chứng khoán. Việc thành lập, giải thể, chuyển đổi cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữu của TTLKCK do Bộ trưởng Bộ Tài chính đề nghị Thủ tướng Chính Phủ quyết định. 
TTLKCK hoạt động tuân thủ theo các quy định của Luật Chứng khoán và điều lệ của trung tâm đồng thời chịu sự giám sát của UBCKNN. Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/05/2006 là tổ chức đăng ký chứng khoán của tất cả các công ty đại chúng.

2.  Chức năng Trung tâm lưu ký chứng khoán

Chức năng của TTLKCK là tổ chức giám sát hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán. Trong đó:

Đăng ký chứng khoán là việc TTLKCK quản lý và ghi nhận các thông tin về quyền sở hữu chứng khoán và các quyền khác của người sở hữu chứng khoán. 
Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán gồm: quyền bỏ phiếu, quyền nhận lãi, vốn gốc trái phiếu và cổ tức trái phiếu bằng tiền, quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu, cổ phiếu thưởng, quyền mua cổ phiếu phát hành thêm, quyền chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi, quyền thay đổi tên, tách gộp cổ phiếu và các quyền khác theo quy định của pháp luật). 
Bù trừ và thanh toán là bước thực hiện cuối cùng để hoàn tất quá trình giao dịch chứng khoán. Để thực hiện bù trừ và thanh toán giao dịch, toàn bộ dữ liệu về kết quả giao dịch chứng khoán của các SGDCK được chuyển sang TTLKCK sau khi kết thúc phiên giao dịch. Việc bù trừ tiền thanh toán chứng khoán được thực hiện cho từng thành viên theo từng thị trường. Đối với giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, trái phiếu công ty niêm yết và đăng ký giao dịch trên các SGDCK, tiền thanh toán giao dịch của thành viên sẽ được chuyển giao trên cơ sở TTLKCK bù trừ giữa số tiền được nhận và số tiền phải trả cho các giao dịch có cùng thời gian, phương thức thanh toán tại các Sở Giao dịch chứng khoán.

3. Quyền và nghĩa vụ của TTLKCK

Quyền và nghĩa vụ của TTLKCK. Theo Điều 45 Luật Chứng khoán 2010, TTLKCK có các quyền cơ bản sau: 
- Ban hành quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán sau khi được UBCKNN chấp thuận; 
- Chấp thuận hủy bỏ tư cách thành viên lưu ký đồng thời giám sát việc tuân thủ quy định của thành viên theo quy chế của TTLKCK; 
- Cung cấp dịch vụ đăng ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán và dịch vụ khác có liên quan theo yêu cầu; 
- Thu phí theo quy định của Bộ Tài chính. Bên cạnh đó, nghĩa vụ của TTLKCK gồm: bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán; 
- Xây dựng quy trình hoạt động và quản lý rủi ro cho từng nghiệp vụ; quản lý tách biệt tài sản của khách hàng; 
- Bồi thường thiệt hại cho khách hàng trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của khách hàng; 
- Hoạt động vì lợi ích hợp pháp của người gửi chứng khoán hoặc người sở hữu chứng khoán. Phải có biện pháp bảo vệ cơ sở dữ liệu và lưu giữ các chứng từ gốc, trích lập quỹ phòng ngừa rủi ro nghiệp vụ; 
- Cung cấp thông tin; thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê, nghĩa vụ tài chính và thực hiện chế độ báo cáo; 
- Chịu trách nhiệm về hoạt động lưu ký, thanh toán tại trụ sở chính, chi nhánh đã đăng ký hoạt động lưu ký.

Một số quy định luật hạn chế đối với TTLKCK. TTLKCK hoặc thành viên lưu ký là không được sử dụng chứng khoán của khác hàng gửi tại TTLKCK  hoặc tại  thành viên lưu ký để thanh toán các khoản nợ của TTLKCK hoặc thành viên lưu ký TTLKCK và thành viên có trách nhiệm bảo mật các thông tin liên quan đến sở hữu chứng khoán  của khách hàng, từ chối việc điều tra, phong tỏa, cầm giữ, trích chuyển tài sản của khách hàng mà không có sự đồng ý của khách hàng.

Thị Trường Chứng Khoán

Các tổ chức, cá nhân muốn đầu tư chứng khoán trước tiên cần hiểu rõ một số khái niệm cơ bản về thị trường chứng khoán, người tổ chức thị trường chứng khoán, thành viên giao dịch và phương thức giao dịch…
1.      Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán theo cách hiểu thông thường nhất là nơi mua bán các loại giấy tờ có giá, còn gọi là chứng khoán, một cách có tổ chức trong một hệ thống luật chặt chẽ. Thị trường chứng khoán tập trung những tổ chức chuyên nghiệp gọi là định chế tài chính (Công ty chứng  khoán, quỹ đầu tư, ngân hàng giám sát…) để vận hành và tổ chức các hoạt động đặc biệt tạo ra cách dẫn và kênh dẫn an toàn từ người có vốn nhàn rỗi gọi là nhà đầu tư đến nơi cần các lượng vốn lớn và dài hạn trong toàn xã hội.
Luật chứng khoán sửa đổi 2010 quy định, ngoài Sở giao dịch Chứng khoán và Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, không tổ chức, cá nhân nào được phép tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán cho các chứng khoán đủ điều kiện niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán. Trung tâm giao dịch chứng khoán tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán cho chứng khoán của tổ chức phát hành không đủ điều kiện niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán.
2.   Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK)
SGDCK, TTGDCK là pháp nhân được thành lập và hoạt động theo hình thức công ty TNHH hoặc CTCP. Việc thành lập, giải thể, chuyển đổi cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữu của SGDCK, TTGDCK phải được Thủ tướng quyết định thông qua đề nghị của Bộ trưởng Bộ tài chính. SGDCK, TTGDCK có chức năng tổ chức và giám sát hoạt động giao dịch chứng khoán niêm yết.  Hoạt động theo quy định của pháp luật về chứng khoán và Điều lệ và chịu sự giám sát của Uỷ ban chứng khoán nhà nước.
SGDCK, TTGDCK có các quyền: Ban hành quy chế về niêm yết và giao dịch, công bố thông tin và thành viên. Tổ chức và điều hành hoạt động giao dịch. Tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ giao dịch. Chấp thuận, hủy bỏ niêm yết; giám sát duy trì điều kiện niêm yết. Chấp thuận, hủy bỏ tư cách thành viên; giám sát hoạt động giao dịch của thành viên. Cung cấp thông tin thị trường và thông tin liên quan đến chứng khoán niêm yết. Làm trung gian hòa giải và thu phí.
Bên cạnh đó, SGDCK, TTGDCK cũng có những nghĩa vụ: Đảm bảo giao dịch CK công bằng, công khai, trật tự và hiệu quả. Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê, nghĩa vụ tài chính. Công bố thông tin. Cung cấp thông tin và phối hợp điều tra. Phối hợp tuyên truyền, phổ biến kiến thức về CK và TTCK.  Bồi thường thiệt hại cho thành viên nếu xác định được lỗi.
3.      Thành viên giao dịch
Thành viên giao dịch trên thị trường chứng khoán là công ty chứng khoán và phải được SGDCK, TTGDCK chấp thuận. Điều kiện, thủ tục tham dự phải tuân theo quy chế thành viên của SGDCK, TTGDCK.
Các đặc quyền của thành viên giao dịch: sử dụng hệ thống giao dịch và các dịch vụ do SGDCK, TTGDCK cung cấp, Nhận thông tin, được đề nghị trung gian hòa giải khi có tranh chấp. Đề xuất và kiến nghị các vấn đề liên quan đến hoạt động và các quyền khác trong quy chế.
Các nghĩa vụ của thành viên giao dịch: Tuân thủ nghĩa vụ của công ty chứng khoán. Đồng thời, phải chịu sự giám sát của SGDCK, TTGDCK.  Nộp phí (phí thành viên, phí giao dịch, phí dịch vụ).  Công bố thông tin. Hỗ trợ thành viên khác trong những trường hợp cần thiết và tuân theo các nghĩa vụ khác theo quy chế thành viên.
4.        Niêm yết chứng khoán
Thành viên giao dịch muốn phát hành chứng khoán phải đáp ứng đủ các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu chứng khoán mới được niêm yết chứng khoán tại SGDCK, TTGDCK.
Ngoài ra, tổ chức phát hành phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực và đầy đủ của hồ sơ niêm yết. Tổ chức tư vấn niêm yết, tổ chức kiểm toán được chấp thuận, người ký báo cáo kiểm toán và bất cứ tổ chức, cá nhân nào xác nhận hồ sơ niêm yết phải chịu trách nhiệm trong phạm vi liên quan đến hồ sơ niêm yết.
Riêng điều kiện, hồ sơ, thủ tục niêm yết chứng khoán đối với trường hợp tổ chức phát hành VN, tổ chức phát hành nước ngoài tại SGDCK, TTGDCK VN và đối với trường hợp tổ chức phát hành VN tại SGDCK nước ngoài do Chính phủ quy định.
5.      Giao dịch chứng khoán
Đối với giao dịch chứng khoán tại SGDCK thì SGDCK tổ chức niêm yết theo phương thức khớp lệnh tập trung và các phương thức giao dịch khác theo quy chế giao dịch. Nếu quy chế giao dịch không có quy định thì chứng khoán niêm yết tại SGDCK không được giao dịch bên ngoài.
Đối với giao dịch chứng khoán giao dịch tại TTGDCK được TTGDCK tổ chức giao dịch niêm yết theo thỏa thuận và phương pháp giao dịch khác quy định trong quy chế giao dịch. Chứng khoán niêm yết tại TTGDCK được giao dịch tại công ty chứng khoán (thành viên giao dịch của TTGDCK) theo quy chế giao dịch của TTGDCK.
Mọi hoạt động về tổ chức giao dịch loại chứng khoán mới, thay đổi và áp dụng phương thức giao dịch mới, đưa vào vận hành hệ thống giao dịch mới của SGDCK, TTGDCK phải được UBCKNN chấp thuận.

6/01/2013

CÔNG TY ĐẠI CHÚNG LÀ GÌ?


1.      Khái niệm
Dưới góc độ kinh tế học, công ty đại chúng  được hiểu là những công ty thực hiện huy động vốn rộng rãi từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) niêm yết tại các trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc chứng khoán không niêm yết nhưng được giao dịch thông qua các thể chế môi giới chứng khoán (1).
Dưới góc độ pháp lý, cụ thể là Luật chứng khoán 2006 (sửa đổi 2010) quy định công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau đây:
-         Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng;
-         Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán;
-         Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng trở lên.
(Điều 25 khoản 1)
2.      Quyền và nghĩa vụ
a.      Quyền
Công ty đại chúng có các quyền được quy định trong Luật doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
b.      Nghĩa vụ
Công ty đại chúng phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
-         Thứ nhất, nghĩa vụ công bố thông tin
-         Tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty theo quy định của Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan. Các nguyên tắc quản trị bao gồm: bảo đảm cơ cấu quản trị hợp lý; bảo đảm hiệu quả hoạt động  của hội đồng quản trị, ban kiểm soát; bảo đảm quyền lợi  của cổ đông, những người có liên quan; bảo đảm đối xử công bằng giữa các cổ đông; công khai minh bạch mọi hoạt động của công ty. Quản trị công ty là yếu tố khác biệt với vấn đề quản lý công ty bởi vì công ty có sự tham gia của nguồn vốn bên ngoài với nhiều nhà đầu tư. Quy định về quản trị công ty đai chúng được quy định tại Thông Tư số 121/2012/ TT-BTC.
-         Thực hiện đăng ký, lưu ký chứng khoán tập trung tại trung tâm lưu ký chứng khoán;
-         Các nghĩa vụ khác theo quy định.
Riêng đối với công ty cổ phần có cổ phiếu ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên có nghĩa vụ phải nộp hồ sơ công ty đại chúng theo quy định cho Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày trở thành công ty đại chúng.
Công ty đại chúng có hành vi không thực hiện nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ, vi phạm trong thực hiện nghĩa vụ thì bị xử phạt theo quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo Nghị định số 85/2010/NĐ-CP và pháp luật khác có liên quan.
3.      Công ty đại chúng quy mô lớn và Cổ đông lớn
a.      Công ty đại chúng quy mô lớn
Công ty đại chúng quy mô lớn là công ty có vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên, được xác định tại báo cáo tài chính năm gần nhất có kiểm toán hoặc theo kết quả phát hành gần nhất, và có số cổ đông không thấp hơn 300 tính tại thời điểm chốt danh sách cổ đông (khoản 2 Điều 2 TT số 52/2012/TT-BTC). Như vậy, để trở thành công ty đại chúng quy mô lớn phải thỏa mãn hai điều kiện, có vốn điều lệ thực góp trên 120 tỷ đồng và số cổ đông phải trên 300.
b.      Cổ đông lớn
Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5 phần trăm trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành (khoản 9 Điều 6 Luật chứng khoán sửa đổi 2010). Tổ chức cá nhân trở thành cổ đông lớn của công ty đại chúng phải báo cáo công ty đại chúng, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán nơi cổ phiếu của công ty đại chúng đó được niêm yết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày trở thành cổ đông lớn. Quy định cụ thể về báo cáo của cổ đông lớn được quy định cụ thể tại Điều 29 LCK sửa đổi 2010.
4.      Vấn đề CTĐC mua lại cổ phiếu
Đối với trường hợp công ty đại chúng không có cổ phiếu niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán khi mua lại cổ phiếu của chính mình phải thực hiện theo quy định tại các điều 90, 91, 92 Luật Doanh Nghiệp. Cụ thể:
-         Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông với giá thị trường  hoặc giá được tính theo nguyên tắc  quy định tại điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu (Điều 91 LDN).
-         Mua lại cổ phần theo quyết định của công ty. Công ty đại chúng có quyền mua lại không quá 30% cổ phần đã bán , một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã  đã bán theo quy định (Điều 92 LDN)
Điều kiện thanh toán và xử lý các cổ phần được mua lại. Công ty đại chúng không có cổ phiếu niêm yết chỉ được quyền thanh toán cổ phần được mua lại cho cổ đông trong hai trường hợp mua lại nêu trên nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại , công ty vẫn đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
Đối với công ty đại chúng có cổ phiếu niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán khi mua lại cổ phiếu của chính mình phải công khai thông tin về việc mua lại chậm nhất là bảy ngày , trước ngày thực hiện việc mua lại. Thông tin bao gồm các nội dung sau đây: mục đích mua, số lượng cổ phiếu được mua, nguồn vốn mua, thời gian thực hiện. Việc công ty đại chúng mua lại cổ phiếu của chính mình, bán lại số cổ phiếu đã mua được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính.
Danh mục tài liệu tham khảo:
(2)  Luật Chứng Khoán sửa đổi 2010;
(3)  Luật Doanh nghiệp 2005;
(4)  Thông tư 52/2012/TT-BTC về Thông tin trên thị trường chứng khoán
(5)  Nghị định 85/2012/NĐ-CP về Xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán;

(6)  Thông tư 121/2012/TT-BTC Quy định về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng.
 
 
Blogger Templates