Pages

HOME

12/26/2017

TIỀM ẨN RỦI RO KHI MUA NHÀ ĐẤT CHƯA ĐƯỢC CẤP SỔ

Vào tham quan các group mua bán bất động sản tôi thấy nhiều anh chị hay đăng đàn hỏi kiểu như sau: “Vợ chồng em dành dụm tích cóp được 01 tỷ, định mua nhà ở Bình Chánh mà chủ nhà chỉ có giấy tờ viết tay thì có an toàn không mọi người?”; “Mình thích 01 căn, đang tính mua nhưng căn này lại chưa lại được cấp sổ, nếu mình mua qua vi bằng thì có hợp pháp không?” hay “em ký mua nhà với lái mà hợp đồng mua bán nhà của lái với chủ nhà chưa được công chứng thì có nguy hiểm không?”.v.v..

Các câu hỏi kiểu này được rất nhiều thành viên quan tâm like và comment khí thế. Lướt qua một loạt comment, tôi có cảm giác rùng mình xen lẫn lạ lẫm khi có nhiều người khuyên các anh chị này nên mua nhà. Một số người phán chắc nịch kiểu như “Mua ok bạn nhé, không sao hết”(???), “Bạn mua nhà có vi bằng thì lo gì”(??!) hay “Mua nhà của lái thì yên tâm nhé bạn, lái đã tìm hiểu hồ sơ nhà kỹ càng rồi thì mới dám bán”(!!!). Chỉ có ít người là tỏ ra thận trọng khuyên nên tìm hiểu kỹ để tránh bị lừa mất cọc, mất nhà.
Thật ra xét về mặt pháp lý, những hình thức mua bán nhà như trên đều không đảm bảo tính hợp pháp và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người mua. Thời gian qua tôi đã tư vấn và trực tiếp giải quyết không ít vụ việc khiếu nại, tranh chấp về nhà, đất mà trong đó giao dịch mua bán/chuyển nhượng bị Tòa tuyên vô hiệu. Nguyên nhân chủ yếu là do các bên xác lập hợp đồng không đúng, vi phạm quy định về hình thức và nội dung. Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu dẫn đến hậu quả nhiều người mua nhà bị nếm quả đắng. Có người mua nhà ở được mấy năm thì xuống cấp trầm trọng muốn xây mới nhưng không được chính quyền cấp phép; người thì đang có nhà ở ngon lành bỗng nhiên bị buộc phải trả lại nhà cho người bán; người thì mua nhà thanh toán xong xuôi định dọn vô ở mới biết nhà đất đang tranh chấp không được chuyển nhượng… Nếu ai thường xuyên theo dõi báo chí thì sẽ còn thấy nhiều trường hợp bị lừa mua nhà đắng cay hơn nữa.
Nhu cầu về nhà ở là nhu cầu rất chính đáng của nhiều gia đình. Thế nhưng không phải ai cũng đủ điều kiện mua những căn nhà có đầy đủ giấy tờ với giá cao. Vì vậy nhiều người đã lựa chọn mua những căn nhà chưa đủ điều kiện cấp sổ, đủ điều kiện nhưng chưa làm thủ tục cấp sổ hoặc đang làm thủ tục cấp sổ với giá thấp hơn để giải quyết cấp bách nhu cầu chỗ ở cho gia đình trước, còn chuyện “sổ siếc” tính sau. Đối với những trường hợp mua bán nhà kiểu này pháp luật không cấm, nhưng xác lập giao dịch như thế nào để hợp đồng có hiệu lực, người mua có nhà ở, đảm bảo được sang tên, cấp sổ về sau, nhất là tránh việc bị “lật kèo” là cả một vấn đề.

8/08/2017

Thẩm quyền Ủy ban nhân dân cấp huyện trong lĩnh vực kinh tế

Ủy ban nhân dân cấp huyện


Trong lĩnh vực kinh tế, Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua để trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt; tổ chức và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đó;
2. Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương, phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; quyết toán ngân sách địa phương; lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
3. Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; hướng dẫn, kiểm tra Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn xây dựng và thực hiện ngân sách và kiểm tra nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn về thực hiện ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật;
4. Phê chuẩn kế hoạch kinh tế - xã hội của xã, thị trấn.
Chủ tịch UBND cấp huyện
1. Tổ chức việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp công dân theo quy định của pháp luật;
2. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền.
3. Về xử phạt vi phạm hành chính, Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định nhưng không quá 50.000.000 đồng;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b trên đây;
đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định:
+   Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
+   Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;
+   Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;
+   Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại;
+   Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;
+   Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;
+   Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật;
+   Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định.

Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong lĩnh vực kinh tế


Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh


Trong lĩnh vực kinh tế, Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, phát triển đô thị và nông thôn trong phạm vi quản lý; xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trình Hội đồng nhân dân thông qua để trình Chính phủ phê duyệt;
2. Tham gia với các bộ, ngành trung ương trong việc phân vùng kinh tế; xây dựng các chương trình, dự án của ban, ngành trung ương trên địa bàn tỉnh; tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ thuộc chương trình, dự án được giao;
3. Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; lập dự toán thu, chi ngân sách địa phương; lập phương án phân bổ dự toán ngân sách của cấp mình trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định; lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét theo quy định của pháp luật;
4. Chỉ đạo, kiểm tra cơ quan thuế và cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách tại địa phương theo quy định của pháp luật;
5. Xây dựng đề án thu phí, lệ phí, các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn trình Hội đồng nhân dân quyết định;
6. Xây dựng đề án phân cấp chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương theo quy định của pháp luật để trình Hội đồng nhân dân quyết định; tổ chức, chỉ đạo thực hiện đề án sau khi được Hội đồng nhân dân thông qua;
7. Lập quỹ dự trữ tài chính theo quy định của pháp luật trình Hội đồng nhân dân cùng cấp và báo cáo cơ quan tài chính cấp trên;
8. Thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp và quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai tại địa phương theo quy định của pháp luật.

Chủ tịch UBND cấp tỉnh

1. Tổ chức việc phối hợp với cơ quan nhà nước cấp trên đóng tại địa bàn tỉnh để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật;
2. Tổ chức việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp công dân theo quy định của pháp luật;
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước ở trung ương phân cấp, ủy quyền.
4. Về xử phạt vi phạm hành chính, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định, bao gồm:
+   Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
+   Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;
+   Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;
+   Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện;
+   Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại;
+   Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;
+   Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm;
+   Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;
+   Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật;
+   Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Trong lĩnh vực kinh tế, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định:
1. Kế hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; chủ trương, biện pháp nhằm phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế ở địa phương, bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh tế theo quy định của pháp luật;
Thông qua đề án khuyến khích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
Chủ trương phát triển sản xuất, kinh doanh, thương mại, du lịch, dịch vụ ở địa phương;
Chủ trương, biện pháp về xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế, các thành phần kinh tế, chú trọng phát triển kinh tế quốc doanh; xây dựng và phát triển hợp tác xã ở địa phương;
Chủ trương phát triển, kế hoạch khai thác, bảo vệ hệ thống công trình thuỷ lợi, giao thông và các công trình khác ở địa phương theo quy định của pháp luật;
Thông qua quy hoạch phát triển nông thôn và đô thị để Uỷ ban nhân dân cùng cấp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;
2. Dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; thu phí, lệ phí, phụ thu và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; phân cấp chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương;
3. Chủ trương, biện pháp phân bổ lao động và dân cư ở địa phương;
4. Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật; biện pháp quản lý, sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở địa phương theo quy định của pháp luật;

5. Biện pháp thực hiện chính sách tiết kiệm trong hoạt động quản lý nhà nước, trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, chống tham nhũng, chống buôn lậu.

Trích lục bản sao hộ tịch tại Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh


Theo Báo Pháp Luật (plo.vn) - kể từ ngày 24/03/2017, người dân có yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch tại Sở Tư pháp TP.HCM không nhất thiết phải đến trụ sở mà nộp hồ sơ ngay trên mạng. Việc nộp phí sẽ được tính khi người dân đến nhận kết quả tại Sở Tư pháp. Dịch vụ công cung cấp trực tuyến này sẽ góp phần giảm thời gian đi lại cũng như tiết kiệm công sức, chi phí cho người dân. Đây là một trong rất nhiều nỗ lực cải cách hành chính về hộ tịch của Sở Tư pháp TP trong thời gian qua.
Tìm hiểu thông tin trước khi đăng ký
Theo đánh giá, việc này giúp giảm áp lực đối với cán bộ so với nhận hồ sơ trực tiếp. Khi cần bản sao trích lục các loại giấy tờ như khai sinh, khai tử, kết hôn từ năm 1953 trở về trước, bản sao trích lục hộ tịch các việc đã đăng ký tại UBND TP.HCM và Sở Tư pháp trước ngày 1-1-2016… thì người dân truy cập vào trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp tại địa chỉ http://sotuphap.hochiminhcity.gov.vn để thực hiện yêu cầu dịch vụ và nhập thông tin vào tờ khai đăng ký.
Để tránh gây trở ngại cho người dân, ông Nguyễn Văn Vũ, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM, lưu ý trước khi nhập thông tin tờ khai cần chú ý một số điểm. Thứ nhất, phải tìm hiểu kỹ quy trình giải quyết thủ tục hành chính trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp. Thứ hai, chuẩn bị các hồ sơ, giấy tờ theo yêu cầu để quét (scan), chụp các loại giấy tờ hộ tịch cần sao lục (nếu có). Chất lượng của file quét phải đảm bảo để bộ phận tiếp nhận và thụ lý hồ sơ có thể đọc được. Thứ ba, khi nhập thông tin tờ khai đăng ký phải nhập các thông tin theo yêu cầu, các thông tin có dấu (*) là bắt buộc phải nhập. Nhập file hồ sơ đính kèm thì chọn tệp tin tương ứng với từng loại hồ sơ, giấy tờ đã chuẩn bị ở trên. Đồng thời nhớ đánh dấu tại ô: “Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai trên” thì hồ sơ mới hợp lệ và chính thức được chuyển đến bộ phận tiếp nhận.
Giảm thời gian đi lại, có kết quả nhanh hơn
“Nếu người yêu cầu cấp bản sao hộ tịch điền thông tin không hợp lệ, không xác thực thì hồ sơ sẽ bị từ chối tiếp nhận” - Trưởng phòng Hộ tịch-Quốc tịch (Sở Tư pháp TP.HCM) Nguyễn Triều Lưu lưu ý.
Theo ông Lưu, khi hoàn tất thủ tục, người dân sẽ nhận được một mã số đăng ký nên phải ghi lại mã số này để tra cứu kết quả giải quyết (chỉ cần nhấp chuột tại biểu tượng “tra cứu” và khai báo các thông tin), đóng phí và nhận kết quả. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết hồ sơ, khi có vấn đề phát sinh thì bộ phận thụ lý hồ sơ sẽ thông báo đến số điện thoại liên lạc hoặc email của người yêu cầu. Trước đây người dân đến phải trực tiếp làm thủ tục này và chờ đợi kết quả lâu hơn thì nay chỉ mất hai ngày làm việc kể từ ngày yêu cầu được tiếp nhận thành công (nhận được mã số đăng ký). Người yêu cầu đóng phí 8.000 đồng/bản sao trích lục là có thể nhận kết quả.
Ông Lưu chia sẻ: “Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến giúp người dân thuận tiện hơn rất nhiều so với trước kia. Cái hay là người dùng có thể sử dụng yêu cầu của mình bất cứ đâu, khi nào, chỉ cần có nối mạng Internet..”. Qua đó nó cũng thúc đẩy nhanh công việc, trả hồ sơ đúng hạn và tạo một tâm lý thoải mái cho cả người dân và cán bộ thụ lý. Người dân chỉ đi đến trụ sở một lần để nộp tiền và nhận kết quả giải quyết. Đây cũng là tiền đề cho việc triển khai tiếp những dịch vụ công khác mà người dân có thể ngồi nhà vừa nộp vừa nhận hồ sơ mà không cần phải đến trụ sở cơ quan hành chính.
Các giấy tờ cần mang khi nhận kết quả
1. Hộ chiếu, hoặc CMND, hoặc thẻ căn cước công dân, hoặc các giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp (còn giá trị sử dụng để chứng minh về nhân thân của người có yêu cầu).

2. Giấy tờ ủy quyền (trong trường hợp ủy quyền nhận bản sao trích lục hộ tịch). Văn bản ủy quyền được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Nếu người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì giấy ủy quyền không phải công chứng, chứng thực nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người ủy quyền. Nếu yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch cho người đã chết thì người yêu cầu nộp giấy tờ chứng minh sự kiện chết, giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người có tên trong trích lục hộ tịch được yêu cầu cấp bản sao. Nếu không có giấy tờ chứng minh sự kiện chết thì người yêu cầu phải cam kết về việc người đó đã chết nhưng không có khai tử (cam kết không yêu cầu phải có công chứng, chứng thực).

8/02/2017

Người thân bị xe tông chết, gia đình được quyền yêu cầu bồi thường những khoản nào?

Hỏi: Vừa qua, bố tôi trên đường đi làm về đã bị người khác chạy xe máy quá tốc độ vượt đèn đỏ đâm vào làm bị thương rất nặng phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Khi gây tai nạn, người này có biểu hiện đang say rượu, mất tỉnh táo và không làm chủ được hành vi của mình. Hiện người này đã bị công an tạm giữ để điều tra về hành vi gây tai nạn. Còn bố tôi sau khi đưa vào bệnh viện cấp cứu được 01 tuần thì mất do chấn thương sọ não.
Xin hỏi Luật sư, gia đình tôi có được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với người đã gây tai nạn cho bố tôi không và có thể yêu cầu bồi thường những khoản tiền nào?

Trả lời:

Trước hết, tôi xin chia buồn sâu sắc về sự mất mát mà không may gia đình bạn đã phải gánh chịu.
Theo thông tin bạn cung cấp, người gây tai nạn đã có lỗi vi phạm quy định pháp luật về an toàn giao thông đường bộ, cụ thể người này đã điều khiển xe máy trong trạng thái say rượu và vượt đèn đỏ gây ra tai nạn làm chết bố của bạn. Hành vi của người này đã có đủ dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Ngoài nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người này còn phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cho gia đình bạn. Theo đó, khoản 01 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, khoản 01 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 quy định bao gồm các khoản sau:

1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết: bao gồm tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác (nếu có). Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc như: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc. Lưu ý chỉ được tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc. Chi phí này được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng: bao gồm các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Tiền chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...không được tính.

3. Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng:

Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng có thể là:
a)    Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;
b)   Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;
c)    Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
d)   Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
e)    Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
f)    Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
g)   Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
h)   Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
i)     Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Lưu ý chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng nếu trước khi chết người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng trên thực tế. Những người này sẽ được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng thì được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

4. Tiền bồi thường để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại. Mức bồi thường bù đặp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp không thỏa thuận được, thì mức tối đa không quá 100 mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm bồi thường.
Về thời gian được hưởng bồi thường, theo Điều 593 BLDS 2015 quy định trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người bị xâm phạm tính mạng chết trong thời hạn sau đây:
a)    Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân. Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người này sinh ra và còn sống.
b)   Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.

Như vậy, gia đình bạn có quyền yêu cầu người đã gây ra tai nạn phải bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng của bố bạn. Để đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp thì gia đình bạn cần xem xét các quy định của pháp luật nêu trên để làm căn cứ xác định yêu cầu bồi thường.

Trường hợp gia đình bạn cần hỗ trợ về mặt pháp lý, vui lòng liên hệ trực tiếp tôi qua số điện thoại 0906.610.061 để được hỗ trợ.


Trân trọng,

7/17/2017

TRANH CHẤP CON DẤU DOANH NGHIỆP, HẠN CHẾ CÁCH NÀO?


Con dấu rất dễ bị làm giả và xét về tính xác thực thì nó là loại xác thực kém nhất, nếu so với chữ ký, vân tay.

Luật pháp quy định DN có con dấu riêng và con dấu là tài sản của DN. Tuy nhiên, nhiều vụ tranh chấp con dấu trong nội bộ DN đang trở nên nóng bỏng và thiệt hại từ những tranh chấp này do DN phải tạm ngừng hoạt động không thể tính toán được.



Nhiều tranh chấp liên quan đến con dấu

Hồi giữa năm 2009, Bệnh viện Tây Đô (Cần Thơ) cũng gây lùm xùm với việc tranh chấp con dấu giữa các thành viên góp vốn với ông Diệp Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng thành viên Bệnh viện. Thanh tra Sở Kế hoạch - Đầu tư TP. Cần Thơ đã tiến hành thanh tra và kết luận ông Bình có nhiều vi phạm. Trong 20 vấn đề kiến nghị xử lý, đoàn thanh tra yêu cầu Bệnh viện Tây Đô phải đăng ký kinh doanh lại và chuyển đổi DN từ hình thức TNHH sang cổ phần. Sau đó, ông Bình không khắc phục mà còn mang con dấu về nhà. Các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa, tháng 3/2012, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP. HCM tuyên hủy hai giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 7/6/2007 và ngày 30/5/2011 do Sở Kế hoạch - Đầu tư cấp cho Công ty TNHH Bệnh viện Tây Đô và cơ quan chức năng TP. Cần Thơ cũng tiến hành thu hồi con dấu của Công ty. Tháng 5/2012, nhiều thành viên góp vốn tổ chức đại hội, cử người đại diện pháp luật để làm thủ tục đăng ký DN. Nhưng hồ sơ bị Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch - Đầu tư Cần Thơ trả lại với lý do chỉ ông Diệp Thanh Bình mới có quyền triệu tập cuộc họp, bởi ông này vẫn là Chủ tịch Hội đồng thành viên của Bệnh viện dựa trên giấy đăng ký kinh doanh trước đó. Do không có con dấu, chưa có giấy đăng ký kinh doanh mới nên tới nay, Bệnh viện Tây Đô không thể đề nghị Bộ Y tế cấp giấy phép khám chữa bệnh có giá trị vĩnh viễn hoặc tạm thời gia hạn hoạt động.

Vụ tranh chấp con dấu kéo dài hơn 3 năm tại CTCP Hữu Nghị Hà Nội, khi cựu Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Công ty kiên quyết không bàn giao con dấu cho HĐQT mới sau ĐHCĐ hợp pháp vào tháng 10/2002 và dùng con dấu này để nhân danh Công ty ký kết các hợp đồng kinh tế có giá trị lớn, gây thiệt hại cho Công ty. Vụ việc tranh chấp này trở nên phức tạp khi công an TP. Hà Nội vào khám xét và khởi tố vụ án hình sự, với tội danh “Chiếm đoạt con dấu” tại công ty này theo Điều 268, Bộ luật Hình sự.

Tương tự, tại CTCP Du lịch khách sạn Bạch Đằng - Hải Phòng, HĐQT mới phải kiện HĐQT cũ ra tòa để yêu cầu HĐQT cũ bàn giao con dấu và phải trải qua nhiều cấp xét xử, HĐQT mới giành được quyền quản lý sử dụng con dấu hợp pháp của mình.

Hay vụ tranh chấp con dấu giữa các thành viên HĐQT CTCP Đay Sài Gòn đã khiến cho Tòa án phải tiến hành áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cưỡng chế giao nộp con dấu từ người đại diện theo pháp luật theo yêu cầu của nguyên đơn. Theo đó, trước khi tòa có quyết định khác, mọi nghiệp vụ đóng dấu văn bản, giấy tờ của Công ty Đay Sài Gòn đều được thực hiện tại cơ quan thi hành án…

Quản lý con dấu, cần thay đổi về tư duy

Tranh chấp con dấu phản ánh một dạng tranh chấp điển hình trong nội bộ DN, giữa ban lãnh đạo cũ và mới, ban lãnh đạo (HĐQT/Hội đồng thành viên) và người đại diện theo pháp luật (chủ tịch HĐQT/giám đốc), hoặc giữa các nhóm cổ đông/thành viên nắm quyền chi phối và kiểm soát DN khi các nhóm này có sự xung đột lợi ích trong việc giành quyền kiểm soát công ty. Trong nhiều trường hợp, tranh chấp càng trở nên nóng bỏng, do cách thức xử lý vụ việc của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan (UBND, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tòa án).

Về bản chất, việc thu hồi con dấu của người đại diện theo pháp luật này giao cho người khác (là người đại diện theo pháp luật hợp pháp theo quy định của pháp luật) trong DN là sự phân chia quyền quản lý tài sản, phân cấp quản lý của DN. Việc công nhận tính hợp pháp của người đại diện theo pháp luật thuộc về thẩm quyền của Tòa án, nếu các bên tranh chấp không đi đến thống nhất với nhau trong việc bàn giao con dấu và khởi kiện ra tòa. Như vậy, tranh chấp con dấu cần được giải quyết theo các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự như một loại tranh chấp về tài sản cho đến khi bản án có hiệu lực. Trong quá trình giải quyết tranh chấp con dấu, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với việc quản lý và sử dụng con dấu để bảo đảm hoạt động bình thường của DN. Đương nhiên, bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho DN theo các quy định của pháp luật dân sự. Bên chiếm giữ con dấu trái phép phải bồi thường các thiệt hại cho DN do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
Theo các chuyên gia pháp lý, việc thu hồi con dấu nên dùng con đường tư pháp, thay vì dùng con đường "hành chính hoá" và tiếp đến là "hình sự hoá" những tranh chấp về tài sản của DN vốn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án dân sự, làm phức tạp tình hình tranh chấp nội bộ DN.

Bên cạnh đó, tư duy về quản lý và sử dụng con dấu cũng nên có một sự chuyển đổi, vì bản chất con dấu là một loại tài sản của DN thì nó có thể chuyển từ “ nên có” sang “có thể có” và tiếp cận đến mức cao nhất như ở các nước là “không cần có”. Để chứng minh vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của DN thì ngoài con dấu ra, DN còn nhiều hình thức khác khẳng định điều này (chữ ký, giấy tờ giao dịch có logo của Công ty). Con dấu của DN chỉ là một dấu hiệu nhận dạng DN để phân biệt DN này với DN khác, chứ không cho nó là một biểu hiện pháp lý của DN. Thực tế, con dấu chỉ có tính xác thực, chứ không có ý nghĩa pháp lý. Con dấu rất dễ bị làm giả và xét về tính xác thực thì nó là loại xác thực kém nhất, nếu so với chữ ký (chữ ký viết tay, chữ ký số), vân tay hay ADN. Do vậy, Luật DN nên sửa đổi theo hướng thừa nhận nhiều hình thức khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của DN, ngoài con dấu, nhằm thay đổi tư duy chiếm hữu con dấu của một bộ phận người quản lý và điều hành DN hiện nay.

Ngoài ra, cũng cần loại bỏ các thủ tục phiền hà từ cơ quan đăng ký kinh doanh với DN khi tiến hành các thủ tục thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh (ví dụ: công văn của DN bắt buộc phải được đóng dấu thì mới hợp pháp, trong khi con dấu đang bị chiếm giữ bởi ban lãnh đạo cũ). Tiến tới cho phép DN tự thiết kế con dấu (hình dạng, kích thước, mẫu mực khác nhau) và đăng ký với cơ quan công quyền để làm dấu hiệu nhận dạng riêng, không trùng lặp với DN khác (giống như quản lý mã số DN hiện nay).

Với các DN, trong khi chờ một sự thay đổi về tư duy về quản lý sử dụng con dấu của các cơ quan chức năng và của chính DN, thì để hạn chế tình huống tranh chấp con dấu, DN cần xây dựng một quy chế nội bộ về quản lý và sử dụng con dấu, với việc xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật khi quản lý, lưu giữ và sử dụng con dấu cũng như trách nhiệm bàn giao khi không còn là người đại diện theo pháp luật; nghĩa vụ phải bồi thường nếu gây thiệt hại cho công ty do việc chiếm giữ con dấu gây ra.


Theo Ls. Lê Minh Toàn.

7/06/2017

[DS-001] TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN LÀ TIỀN ĐỀN BÙ ĐẤT VÀ CÂY ĐƯỚC TẠI HCM


(Quyết định giám đốc thẩm số 03/2008/DS-GĐT ngày 08-01-2008 của Toà Dân sự TANDTC tại Tp. Hồ Chí Minh)

1/. Nội dung vụ án:

(Tranh chấp đất trồng đước, ảnh minh họa)

Nguyên đơn Họ Đạo Cao Đài Thánh Thất Thôn TH, xã TT, huyện CG, thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Họ Đạo) trình bày:
Ngày 21-10-1991, Họ Đạo được UBND huyện DH (nay là huyện CG) cấp diện tích 129.882m2 đất (gồm 3 thửa tọa lạc tại tờ bản đồ số 15, xã TT) để sản xuất. Cũng trong thời gian đó, vợ chồng ông Trần Văn B, bà Phạm Thị T cũng được cấp diện tích 157.644 m2 đất lâm nghiệp, gồm 8 thửa tọa lạc tại tờ bản đồ số 15, xã TT.
Năm 1992, Họ Đạo quyết định trồng đước trên diện tích đất được giao nhưng đất đã bị ông B, bà T lấn chiếm trồng đước trên diện tích đất này. Họ Đạo yêu cầu ông B, bà T trả lại đất nhưng không được chấp nhận.
Ngày 26-01-2005, Họ Đạo khởi kiện tại Tòa án yêu cầu ông B, bà T trả lại đất (thực tế đất đã bị Nhà nước thu hồi và được bồi thường, trong đó Họ Đạo đã nhận 114.296.160 đồng). Trong đơn khởi kiện bổ sung, Họ Đạo yêu cầu ông B, bà T trả lại đất và tiền ăn chia cây đước trồng trên đất. Sau đó tại biên bản hòa giải không thành, Họ Đạo yêu cầu ông B, bà T trả lại toàn bộ số tiền đền bù đất là 571.480.000 đồng và 50% tiền huê lợi cây trồng trên đất là 428.617.000 đồng.
Bị đơn ông B, bà T trình bày: Năm 1991 ông, bà được UBND huyện DH cấp diện tích 157.644m2 đất lâm nghiệp. Sau khi nhận đất, ông bà đã khai hoang trồng đước và được UBND xã và Hạt kiểm lâm cho phép. Năm 2002, Nhà nước có chủ trương kê khai, thu hồi lại đất rừng ở khu rừng ngập nước để làm khu sinh thái, gia đình ông bà đã trả lại 129.882m2 đất và được đền bù tổng cộng 1.428.700.800 đồng (trong đó tiền đất là 571.480.000 đồng và tiền cây đước là 857.220.000 đồng). Ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện nêu trên của Họ Đạo.

2/. Quá trình giải quyết vụ án:

Tại Bản án sơ thẩm số 1498/DSST ngày 19-7-2005, TAND TP.HCM đã quyết định: Họ Đạo được quyền sở hữu toàn bộ khoản tiền đền bù 129.882 m2 đất, trị giá 571.480.800 đồng; ông B, bà T phải thanh toán trả lại tiền đền bù cây đước cho Họ Đạo là 373.676.408 đồng.
Ngày 28-7-2005, ông B, bà T kháng cáo. Tại Bản án phúc thẩm số 419/DSPT ngày 27-10-2005, Toà phúc thẩm TANDTC TP.HCM đã giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
Ngày 02-12-2005, ông B, bà T có đơn khiếu nại. Ngày 22-10-2007, Chánh án TANDTC có Quyết định số 209/2007/KN-DS kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên với lý do: cần làm rõ Họ Đạo có biết hay không biết thỏa thuận đền bù đất và cây; xác minh rõ Họ Đạo có biết hay không biết việc ông B, bà T trồng cây đước trên đất của Họ Đạo; cần xác định vụ án là tranh chấp quyền sở hữu tài sản. Từ đó đề nghị huỷ bản án phúc thẩm; giao hồ sơ vụ án cho TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm lại.

3/. Nhận xét:

Hội đồng giám đốc thẩm nhận cho rằng trong vụ án này cả hai cấp Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đều mắc chung một sai lầm: Họ Đạo và vợ chồng ông B, bà T tranh chấp về số tiền đền bù đất và cây nên quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp quyền sở hữu tài sản (tiền đền bù đất, cây). Tòa án các cấp xác định quan hệ pháp luật là “Chiếm dụng quyền lợi đất và tài sản trên đất” là chưa đúng.
Họ Đạo với vợ chồng ông B, bà T có tranh chấp về số tiền bồi thường về giá trị quyền sử dụng đất và cây nên cần phải xác minh làm rõ lại thoả thuận, phương án đền bù đất, cây đã xác lập trước đó giữa Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng với Họ Đạo và ông B, bà T.
- Nếu các bên đều biết thoả thuận này và phương án đền bù được làm công khai, được niêm yết đầy đủ và UBND thành phố Hồ Chí Minh đã có Quyết định phê duyệt phương án đền bù thì tiền bồi thường của người nào người đó được hưởng.
- Nếu các bên không biết thoả thuận này và Họ Đạo biết vợ chồng ông B, bà T trồng đước trên đất của Họ Đạo nhưng không khiếu nại thì không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Họ Đạo đòi giá trị khai thác quyền sử dụng đất để trồng cây.
- Trong trường hợp Họ Đạo biết ông B, bà T trồng đước trên đất của Họ Đạo và có khiếu nại, tranh chấp từ khi mới trồng nhưng chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thì Họ Đạo cũng chỉ được hưởng giá trị khai thác, sử dụng đất tương ứng với giá đất thuê (trong thời gian từ năm 1992 đến lúc Nhà nước thu hồi đất) tại địa phương, nhưng không thể cho hưởng 50% số tiền bồi thường đước (sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý).

Do đó, Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm; Giao hồ sơ vụ án cho TAND thành phố Hồ Chí Minh để xét xử sơ thẩm lại.

7/05/2017

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC HỢP PHÁP HÓA LÃNH SỰ TẠI TP HCM


Qua bài viết này, tôi xin chia sẻ kinh nghiệm thực hiện thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu tại Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh. 
Khi cần hợp pháp hóa lãnh sự các văn bản, tài liệu của nước ngoài để được công nhận và sử dụng ở Việt Nam, bạn liên hệ Sở Ngoại vụ Tp. HCM, địa chỉ số 06 Alexandre de Rhodes, Bến Nghé, Hồ Chí Minh, Bến Nghé Quận 1 để được giải quyết.
Trước khi đến Sở, các bạn phải chuẩn bị trước hồ sơ gồm:
1. Bản chính giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu) của bạn, tức là người đề nghị hợp pháp hóa lãnh sự.
2. Giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự (01 bản chính + 01 bản photo). Giấy tờ này trước đó phải được chứng nhận bởi cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước ngoài.
3. Nếu giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự không được lập bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh thì bạn phải đính kèm 01 bản dịch giấy tờ, tài liệu này sang 01 trong hai thứ tiếng nêu trên (bản chính + bản photo). Bản dịch không phải chứng thực, người nộp hồ sơ phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản dịch.
Khi đến Sở bạn liên hệ bàn hướng dẫn để được hướng dẫn làm Tờ khai chứng nhận/hợp pháp hoá lãnh sự. Sở có bàn cung cấp dịch vụ khai tờ khai với phí 30.000 đồng/lần, các bạn cũng có thể tự khai qua máy tính tại Sở sau đó in tờ khai với giá 10.000 đồng/lần. Theo tôi, nếu muốn nhanh thì bạn nên nhờ dịch vụ vì chỉ mất khoảng 05 phút thay vì bạn mày mò trên máy tính sẽ dễ khai sai và nhiều khi phải chờ rất lâu mới đến lượt sử dụng. Trường hợp khai qua máy tính, bạn tham khảo bảng hướng dẫn sau đây:
(Ảnh được chụp tại Sở)
Sau khi làm xong tờ khai, bạn ký tên vào tờ khai và mang đến nộp vào quầy số 05 để lấy số thứ tự và ngồi chờ đến lượt gọi đến quầy gặp cán bộ tiếp nhận hồ sơ. Nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, cán bộ tiếp nhận hồ sơ sẽ làm giấy biên nhận hồ sơ và hẹn ngày trả kết quả, thông thường là khoảng 01 ngày làm việc. Khi đến hẹn, bạn mang biên nhận hồ sơ đến Sở liên hệ tại quầy trả kết quả để nhận kết quả, lệ phí thực hiện thủ tục là 30.000 đồng/bản.

Bạn lưu ý trường hợp cần kiểm tra tính xác thực của giấy tờ, tài liệu đề nghị được chứng nhận lãnh sự, cán bộ tiếp nhận hồ sơ có thể yêu cầu người đề nghị hợp pháp hóa lãnh sự xuất trình bổ sung bản chính giấy tờ, tài liệu có liên quan và nộp 01 bản photo giấy tờ, tài liệu này.

6/29/2017

Vướng mắc thủ tục hoàn trả tạm ứng án phí?


Hỏi: Công ty chúng tôi là nguyên đơn trong một vụ kiện tranh chấp được giải quyết tại Tòa án vào năm 2016. Theo bản án sơ thẩm, Công ty chúng tôi được hoàn trả số tiền án phí đã tạm ứng là 90.000.000 đồng. Sau đó phía bị đơn có kháng cáo và Tòa phúc thẩm trong quá trình giải quyết đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và bản án sơ thẩm có hiệu lực. Ngày 14/07/2016, Công ty chúng tôi đã làm đơn yêu cầu thi hành án và đã được cơ quan thi hành án thụ lý giải quyết.
Ngày 16/09/2016, Công ty chúng tôi đã có văn bản đề nghị cơ quan thi hành án hoàn trả số tiền tạm ứng án phí nhưng đến nay vẫn chưa nhận được số tiền nêu trên. Khi liên hệ với cơ quan thi hành án, chúng tôi được thông báo là chưa nhận được bản án sơ thẩm và quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của cấp phúc thẩm. Cơ quan thi hành án cũng khẳng định chỉ trả tạm ứng án phí khi nhận được hai văn bản này. Chúng tôi liên hệ hai cấp Tòa thì họ khẳng định đã gửi hai văn bản nêu trên cho cơ quan thi hành án.
Xin hỏi Luật sư, Công ty chúng tôi phải làm gì để lấy lại được số tiền tạm ứng án phí nói trên? 
Trả lời:
Căn cứ quy định tại Điều 36 và Điều 126 Luật Thi hành án dân sự thì việc trả lại tiền tạm ứng án phí theo bản án, quyết định của toà án là loại việc thi hành án chủ động. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án. Do vậy, việc hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho công ty theo bản án, quyết định của toà án như trường hợp này không cần phải có đơn yêu cầu thi hành án.
Điều 28, 29 Luật Thi hành án dân sự quy định Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khi nhận bản án, quyết định do toà án chuyển giao, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra, vào sổ nhận bản án, quyết định. Sổ nhận bản án, quyết định phải ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận bản án, quyết định; số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định và tên toà án đã ra bản án, quyết định; họ, tên, địa chỉ của đương sự và tài liệu khác có liên quan. Việc giao, nhận trực tiếp bản án, quyết định phải có chữ ký của hai bên. Trong trường hợp nhận được bản án, quyết định và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho toà án đã chuyển giao biết.
Trong trường hợp của công ty, cần phải làm rõ trách nhiệm của toà án hay cơ quan thi hành án dân sự trong việc chuyển giao và nhận bản án, quyết định của toà án. Công ty cần kiến nghị bằng văn bản với tòa án về việc đã chuyển giao bản án, quyết định hay chưa, nếu đã chuyển giao thì chuyển giao ngày tháng năm nào, hình thức chuyển giao như thế nào (giao trực tiếp cho cơ quan thi hành án dân sự hay chuyển giao qua đường bưu điện hay thông qua Thừa phát lại.v.v).
Trường hợp đã chuyển giao nhưng thất lạc thì kiến nghị tòa án chuyển giao lại để cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trả tiền bảo đảm quyền lợi của công ty.

Thủ tục rút đơn khởi kiện


Hỏi: Tôi có khởi kiện và đã được Tòa án thụ lý giải quyết, nay tôi muốn rút đơn khởi kiện. Xin Luật sư tư vấn thủ tục rút đơn khởi kiện?
Trả lời:
Rút đơn khởi kiện là việc nguyên đơn sau khi đã gửi đơn khởi kiện không muốn tiếp tục khởi kiện nữa và muốn rút đơn. Quy định của pháp luật về việc rút đơn khởi kiện ở mỗi giai đoạn tố tụng có sự khác nhau và hậu quả của việc rút đơn cũng khác nhau. Theo đó, có các trường hợp rút đơn khởi kiện như sau:
1. Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện của trước khi mở phiên tòa:
Theo quy định tại Điều 18 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP ngày 3-12-2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trước khi mở phiên tòa phải được làm thành văn bản và nộp cho Tòa án. Sau khi nhận đơn xin rút yêu cầu khởi kiện, Tòa án sẽ xem xét đơn và có quyết định đình chỉ vụ án gửi các đương sự. Trường hợp này nguyên đơn được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp.
2. Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trong thời hạn kháng cáo:
Trước tiên, Tòa án cấp sơ thẩm giải thích hậu quả của việc bị đơn không đồng ý để nguyên đơn có quyết định về việc kháng cáo hoặc rút đơn khởi kiện. Nếu nguyên đơn vẫn quyết định rút đơn khởi kiện thì tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho bị đơn biết và yêu cầu bị đơn phải trả lời bằng văn bản về việc đồng ý hay không đồng ý trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo. Tùy thuộc vào kết quả trả lời của bị đơn mà giải quyết như sau:
a) Trường hợp bị đơn không đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và bản án không bị kháng cáo, kháng nghị thì việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn đương nhiên không được chấp nhận. Trong trường hợp này bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
b) Trường hợp bị đơn đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, thì không phân biệt có hay  không có kháng cáo hoặc kháng nghị, tòa án cấp sơ thẩm gửi hồ sơ vụ án cho tòa án cấp phúc thẩm mở phiên tòa giải quyết vụ án.
3. Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm mà trước đó bản án sơ thẩm có kháng cáo hoặc kháng nghị:
Khoản 1 Điều 299 của BLTTDS 2015 quy định trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tùy từng trường hợp mà giải quyết như sau:
a) Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn;
b) Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, nguyên đơn có quyền khởi kiện lại nếu tranh chấp còn thời hiệu khởi kiện.

6/27/2017

VỤ ÁN 16: Tranh chấp giữa thành viên CT với CT Phúc Lộc Thọ tại HCM


Nội dung vụ án:
Ngày 13/1/2008, Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Phúc Lộc Thọ (“Công ty”) họp Đại hội cổ đông bất thường. Theo biên bản cuộc họp, ông Lê Xuân Thành thôi giữ chức giám đốc công ty, ông Thành có trách nhiệm trả cho Công ty số tiền trợ vốn, tiền thuê nhân công là 400.000.000 đồng và tiền 3% thu nhập chịu thuế tính trước là 100.000.000 đồng (3% x 6.123.531.400 đồng). Tổng cộng: 500.000.000 đồng.
Công ty cho rằng số tiền 500.000.000 đồng mà Công ty yêu cầu ông Thành trả thực chất là tiền ông Thành có nghĩa vụ hỗ trợ cho Công ty khi ông Thành thi công công trình cải tạo và nâng cấp đường 827B của Sở giao thông vận tải LA. Ông Thành có trách nhiệm thanh toán số tiền 500.000.000 đồng thành nhiều đợt theo tiến độ nghiệm thu của công trình 827 B.  
Do ông Thành không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nêu trên, Công ty đã khởi kiện yêu cầu ông Thành trả số tiền 500.000.000 đồng cùng tiền lãi phát sinh theo mức lãi 1%/tháng trên số tiền 500.000.000 đồng tính từ 13/01/2008 đến ngày 22/09/2010 là 160.000.000 đồng. Tổng cộng 660.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án:
Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 1589/2010/KDTM-ST ngày 29/09/2010 của Tòa án nhân dân thành phố HCM quyết định:
Bác yêu cầu của Công ty Phúc Lộc Thọ về việc yêu cầu ông Lê Xuân Thành trả số tiền 500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 160.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền bị bác là 660.000.000 đồng.
Ngày 12/10/2010 Công ty có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại bản án phúc thẩm số 70/2011/KDTM-PT ngày 16/5/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Hủy bản án số 1589/KDTM-ST ngày 29/9/2010 của Tòa án nhân dân thành phố HCM; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Nhận xét:
Tòa cấp phúc thẩm cho rằng Tòa cấp sơ thẩm đã mắc những thiếu sót không thể khắc phục được. Tòa cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào biên bản ngày 13/01/2008 để quyết định giải quyết vụ án là chưa chính xác. Bởi lẽ:
- Giám đốc đại diện Công ty lúc bấy giờ là ông Thành đã lập biên bản thỏa thuận với Tharadi rằng Công ty sẽ thi công công trình nếu Tharadi trúng thầu công trình 827B. Sau khi trúng thầu thì Công ty có làm không? Nếu không làm thì lý do vì sao lại ký quỹ cho Tharadi như các đương sự đã thừa nhận trước tòa?
- Ông Thành là người của Công ty sao lại được Tharadi quyết định làm đội trưởng thi công cho Tharadi trong khi chưa có văn bản nào xác định ông Thành không còn là nhân viên của Công ty.
- Nếu như Công ty không còn liên quan gì đến việc thi công công trình 827B thì sao Đại hội cổ đông Công ty ngày 13/1/2011 vẫn có sự thống nhất Công ty sẽ ứng tiền cho ông Thành làm công trình này nếu Tharadi chưa kịp rót tiền cho ông Thành.

Tất cả chứng cứ trên Tòa sơ thẩm chưa làm rõ để xác định Tharadi, ông Thành và Công ty có mối quan hệ trong công trình 827B như thế nào, chỉ dựa vào chứng cứ Công ty không rót tiền cho ông Thành mà xử bác yêu cầu là chưa có căn cứ thuyết phục. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ xét xử lại là hợp lý.

6/24/2017

Người thông minh góp ý và phê bình người khác thế nào để không bị mất lòng?


Bài viết của tác giả Barrie Davenport - "Thứ nhất, đọc lại mọi thứ mà bạn viết ra trước khi gửi đi; thứ hai, đừng né tránh chỉ trích vì nó gay gắt, nó sẽ giúp bạn tiến bộ". 



Có ai ở đây thích bị phê bình không? Tôi thì chắc chắn là không, vì qua thời gian, tôi đã hiểu giá trị của sự phê bình. 

Khi ngoài 20 tuổi và làm công việc quan hệ công chúng. Có lần, tôi gửi mail cho biên tập viên của một chuyên trang và trình bày ý tưởng về câu chuyện liên quan đến khách hàng. Tay biên tập kia phản hồi tôi một cách gay gắt, dù hắn bằng tuổi tôi. Những lời lẽ đó chẳng khác gì lời phê trên bài kiểm tra thời trung học, chỉ trích bài viết cũng như các lỗi chính tả. Như bị tát vào mặt, ban đầu tôi rất tức giận nghĩ trong đầu: "Nghĩ mình là ai chứ? Tôi đã tốt nghiệp Đại học bằng tiếng Anh đấy, tôi biết nhiều hơn anh là cái chắc". Tuy nhiên thì, dù đang trong tâm thế muốn đánh lộn, tôi phải đau đớn thừa nhận rằng tay biên tập kia đã đúng. Tôi đã mắc những lỗi ngớ ngẩn không chấp nhận được, vô cùng kém chuyên nghiệp. Dù chỉ là mail phản hồi, gã đó đã dạy tôi hai bài học từ những lời chỉ trích: Thứ nhất, đọc lại mọi thứ mà bạn viết ra trước khi gửi đi; thứ hai, đừng né tránh chỉ trích vì nó gay gắt, nó sẽ giúp bạn tiến bộ.

Câu chuyện này có vẻ không đáng nói lắm, tuy nhiên vấn đề của anh biên tập kia là chưa biết cách phê bình sao cho không mất lòng người khác. Đây là kỹ năng sống cực kỳ quan trọng, nó giúp bạn được những người xung quanh nể phục cũng như có được nhiều cơ hội trong cuộc sống.

Sự thật là, con người đều "xù lông" khi bị phê bình, nhất là người còn trẻ tuổi. Dù lời phê bình có xác đáng hay không, hầu hết chúng ta đều cảm thấy tổn thương, chỉ là ít hay nhiều thôi. Dù người đưa ra lời phê bình có ý tốt, người phải nhận phê bình cũng sẽ cảm thấy tổn thương lòng tự trọng. Nhưng nếu người phê bình thiếu tinh tế hay cố tình chỉ trích nặng nề, việc đó có thể khiến một số người cảm thấy rất đau khổ. Ai cũng có nhận thức riêng về tầm quan trọng của chính mình. Tất cả chúng ta đều cần được trân trọng và cần cảm thấy nỗ lực và hành động của mình được đánh giá cao. 

Lời phê bình có thể khiến chúng ta đánh giá thấp sự tồn tại cũng như hành động của mình. Những lời phê bình thiếu suy nghĩ có thể khiến bạn nghi ngờ chính mình và tầm quan trọng của bản thân. Khi biết sự phê bình có thể gây tổn thương như thế, có thể bạn sẽ nghĩ rằng cứ tránh phê bình người khác là được. Ai lại muốn khiến người khác đau khổ hay khiến họ phải nghi ngờ giá trị của chính bản thân mình chứ? Nhưng dĩ nhiên việc tránh phê bình người khác là hoàn toàn phi thực tế. 

Rất nhiều tình huống cần đến sự phê bình, thậm chí đôi khi phê bình là điều buộc phải làm. Chẳng hạn như khi con trai bạn tiệc tùng suốt đêm thay vì làm bài tập về nhà. Hay khi bạn bè luôn đến muộn trong các buổi hẹn. Hay khi nhân viên của bạn phạm một lỗi có thể khiến công việc kinh doanh của bạn tổn thất hàng nghìn USD. Khi đó, rõ ràng bạn cần phê bình, nhưng vấn đề là bạn nên phê bình ra sao. Điều quan trọng là bạn phải phê bình sao cho người nghe không thấy bị công kích cá nhân. Bạn cũng muốn người nghe phản ứng tốt với nhận xét của mình và từ đó có phản hồi tích cực. Phê bình thiếu tế nhị hoàn toàn có thể phản tác dụng. Mong là người nghe sẽ biết ơn bạn vì lời nhận xét và học được điều gì đó từ nó. Dưới đây là 4 cách phê bình một cách thông minh và mang tính xây dựng:

1. Khen trước đám đông, phê bình riêng với cá nhân

Bên cạnh việc bạn nói gì, thì thời điểm bạn nói cũng rất quan trọng. Người nghe nên ở trong tâm thế sẵn sàng chấp nhận chỉ trích. Nếu họ có vẻ tức giận hay buồn bực, thì lời phê bình của bạn sẽ không chỉ khiến họ khó chịu thêm, mà còn làm tăng khả năng họ bác bỏ và chống lại bạn. Ngoài ra, đám đông là nơi thích hợp để khen ngợi chứ không phải phê bình, hãy làm điều đó kín đáo một chút.

2. Phê bình một cách tích cực trong lời nói lẫn thái độ

Bạn có thể sẽ rất muốn nói thẳng, đặc biệt là khi không có nhiều thời gian, hoặc bạn là kiểu người không thích vòng vo. Nhưng nếu bạn muốn đối phương ghi nhớ lời phê bình của mình, thì bạn phải cho họ thấy rằng bạn không chỉ nhận ra những điểm chưa tốt ở họ. Hãy chắc chắn rằng bạn khen một cách chân thành và đúng sự thật. Tránh bất cứ sự tâng bốc không cần thiết nào để xoa dịu lời phê bình.

3. Tập trung vào vấn đề, không công kích vào con người

Không ai thích bị công kích cá nhân. Ngay cả khi làm việc gì đó sai, họ cũng không muốn thừa nhận sự thật mà không biện hộ gì. Nếu bạn định nói về sai lầm của một người, bạn cần phải đặt một khoảng cách về tâm lý giữa lỗi lầm và người phạm lỗi. Trong những tình huống với đời sống cá nhân, hãy làm lời phê bình không tập trung vào việc họ là “người xấu”, giúp họ hiểu được hành động của họ ảnh hưởng đến người khác như thế nào.

4. Đưa ra gợi ý chứ không dạy đời

Khi người khác ra lệnh hay chỉ dẫn bạn làm việc gì đó, thì bạn cảm thấy như thế nào? Bạn cảm giác như mình đang bị đối xử như một đứa trẻ phải không? Vậy nên khi muốn cho người khác biết làm thế nào để cải thiện vào lần sau, quan trọng là bạn phải tỏ ra muốn giúp đỡ họ chứ không phải dạy đời họ. Khi đưa ra gợi ý, hãy dùng từ ngữ tích cực, như, “Bạn có thể làm thế này” thay vì, “Bạn phải làm thế này”. Hãy đặt câu hỏi để thúc đẩy đối phương nghĩ ra cách giải quyết riêng của họ. Nên nhớ rằng, một khi người đối diện cảm thấy tổn thương vì lời phê bình của bạn, họ sẽ chẳng muốn lắng nghe nữa.


 
 
Blogger Templates