Pages

HOME

11/15/2016

Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự

Hỏi: Năm 2015, Công ty chúng tôi có ký hợp đồng bán hàng vật tư cho Công ty M.K. Đến hạn thanh toán nhưng Công ty M.K lấy nhiều lý do để trốn tránh việc thanh toán tiền hàng cho Công ty chúng tôi. Ngày 15/6/3016, Công ty chúng tôi đã nộp đơn khởi kiện cho Tòa án yêu cầu buộc công ty M.K phải thanh toán tiền hàng và lãi suất chậm thanh toán. Ngày 03/07/2016, Tòa án thụ lý vụ án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án cho chúng tôi và yêu cầu Công ty tự khai về yêu cầu khởi kiện. Chúng tôi đã gửi văn bản tự khai cho Tòa án trong thời hạn quy định. Tuy nhiên từ đó cho đến nay là ngày 10/11/2016 Tòa án không tiến hành thủ tục giải quyết nào và cũng không gửi bất kỳ văn bản nào liên quan đến về việc giải quyết vụ án của chúng tôi. Hành vi trên của Tòa án là đúng hay sai?

Trả lời:

Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (kế thừa quy định Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự như sau:

Điều 203. Thời hạn chuẩn bị xét xử
1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:
a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;
b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[…] 3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tuỳ từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:
a) Công nhận sự thoả thuận của các đương sự;
b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.”

Theo quy định trên thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án về tranh chấp trong lĩnh vực dân sự và tranh chấp hôn nhân & gia đình là 04 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án. Trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Đối với tranh chấp trong các lĩnh vực dân sự, lao động thì thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa là 02 tháng, trường hợp vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng.

Trong thời hạn quy định, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định giải quyết vụ án tùy theo từng trường hợp. Trường hợp Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa, trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Như vậy, tổng thời gian từ ngày thụ lý vụ án đến ngày đưa vụ án ra xét xử đối với vụ án dân sự liên quan đến tranh chấp dân sự và hôn nhân và gia đình không được quá 06 tháng; đối với vụ án kinh doanh thương mại, lao động thì không được quá 04 tháng.

Tranh chấp của Quý Công ty với Công ty M.K về hợp đồng mua bán hàng hóa là tranh chấp thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại nên thời hạn giải quyết từ ngày Tòa án thụ lý vụ án đến ngày đưa vụ án ra xét xử tối đa không được quá 04 tháng. Ngày 03/07/2016 Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của Quý Công ty, theo quy định tại điểm a khoản 01 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 trong thời hạn 02 tháng thì Tòa án phải tiến hành các thủ tục tố tụng theo luật định. Tuy nhiên, tính đến thời điểm 03/11/2016 là đã vượt quá 04 tháng mà Tòa án không tiến hành bất kỳ thủ tục giải quyết nào và cũng không gửi bất kỳ văn bản nào liên quan đến về việc giải quyết vụ án cho đương sự là vi phạm quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Luật gia Võ Văn Tú 
 
 
Blogger Templates